Bản án 96/2019/HS-ST ngày 20/11/2019 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

BẢN ÁN 96/2019/HS-ST NGÀY 20/11/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 20 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2019/TLST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Đại L (tên gọi khác: Không), sinh năm 1967 tại xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; con ông Bùi Gia M (đã chết) và bà Phạm Thị Nh. Có vợ là Nguyễn Thị Hồng Nhà có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1999; Tiền án: Không; tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Hoàng Văn A, sinh năm 1963 Tró t¹i: Phố T, thị trấn N, huyÖn N, tØnh Ninh B×nh.

- Bà Phạm Thị H, sinh n¨m 1968.

Tró t¹i: Thôn B, xã C, huyÖn N, tØnh Ninh B×nh.

- Anh Nguyễn Tòng Kh, sinh n¨m 1987.

Tró t¹i: Th«n C, xã V, huyÖn N, tØnh Ninh B×nh.

- Ông Hoàng Văn T, sinh n¨m 1962.

Tró t¹i: Th«n Y, xã Y, huyện N, tØnh Ninh B×nh.

- Anh Nguyễn Quyết T, sinh năm 1990 Trú tại: Thôn Th, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1966.

Trú tại: Thôn Ph, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Nhng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Bùi Đức H, sinh năm 1974. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dựa vào kết quả giải thưởng của Xổ số kiến thiết miền Bắc được mở thưởng hàng ngày Bùi Đại L đã tự đứng ra lập “bảng lô, đề và làm các cáp lô, đề’’ để đA bạc bằng hình thức “ĐA số lô, số đề” trái phép với khách qua đường và những người quen biết tại gia đình nhà L. Việc đA bạc được thực hiện bằng phương thức mua bán trực tiếp hoặc nhắn tin thông qua điện thoại di động do Bùi Đại L tự đứng ra làm chủ nhằm thu lợi bất chính.

Cách thức chơi đA bạc bằng hình thức “ĐA số lô, số đề” được Bùi Đại L thống nhất với những người chơi như sau:

- Đối với “Số đề”: Có hai loại, gồm “loại 02 số” “ loại 03 số” hay còn gọi là ba càng người chơi chọn mua một hoặc nhiều con số bất kỳ (từ con số 00 đến con số 99 đối với“loại 02 số” và từ con số 000 đến con số 999 đối với “loại 03 số”) giá trị mỗi con số mua bao nhiêu là tùy thuộc vào người chơi. Việc quy ước cách thức chơi và đối chiếu trúng thưởng trong việc mua bán các số lô, đề được Bùi Đại L và các người chơi thống nhất như sau: Lấy hai số cuối đối với “loại 02 số”, ba số cuối đối với “loại 03 số” của “Giải đặc biệt” xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu con số của người chơi trùng với hai số hoặc ba số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi sẽ “trúng đề” và trong trường hợp này người chơi sẽ được L thanh toán cho mình với số tiền trúng thưởng có giá trị gấp 70 lần số tiền người “trúng đề” đã bỏ ra mua con số đối với“loại 02 số” và gấp 400 lần đối với“loại 03 số”. Ngược lại, nếu không có người chơi nào“trúng đề” thì Bùi Đại L sẽ được hưởng toàn bộ số tiền những người chơi đã bỏ ra mua các con số đề tương ứng.

- Đối với “số Lô” gồm có “Lô thường” “Lô xiên”:

“Số lô thường” có hai loại là “Lô Ninh Bình” “Lô Hà Nội”, cũng tương tự như số đề người chơi chọn mua một hoặc nhiều con số bất kỳ từ số 00 đến số 99. Hình thức mua bán trao đổi các con số lô giữa Bùi Đại L và người chơi được thực hiện tương tự như việc mua bán trao đổi các con số đề. Việc quy ước cách thức chơi và đối chiếu trúng thưởng trong việc mua bán các số lô, đề được L và khách chơi thống nhất như sau: Lấy hai số cuối của tất cả các giải trong các giải thưởng của xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu con số của người chơi trùng khớp với hai số cuối của một hoặc các giải thưởng trong các giải xổ số kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó thì người chơi sẽ “trúng Lô”. Giá trị của một điểm lô Ninh Bình là 20.000 đồng và một điểm lô Hà Nội là 23.000 đồng, nếu con số lô Ninh Bình của người chơi trùng khớp với một giải thì được nhận thưởng 70.000 đồng, nếu trùng khớp với 02 giải (gọi là “hai nháy”) người chơi sẽ được nhận tối đa gấp 2 lần số tiền trúng thưởng. Đối với số lô Hà Nội của người chơi trùng khớp với một giải thì được nhận thưởng 80.000 đồng, nếu trùng khớp với 02 giải (gọi là “hai nháy”) người chơi sẽ được nhận tối đa gấp 2 lần số tiền trúng thưởng, nếu trùng khớp với 03 giải (gọi là “Ba nháy”) thì người chơi sẽ được nhận tối đa gấp 3 lần số tiền trúng thưởng. Nếu không có người chơi nào “trúng Lô” thì Bùi Đại L được hưởng toàn bộ số tiền những người chơi đã bỏ ra mua các con số lô tương ứng.

“Số Lô xiên” gm có hai loại “xiên 2, xiên 3 và xiên 4”, khác với “lô thường”, người chơi phải lựa chọn mua hai cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 2”, ba cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 3” và bốn cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 4” trong các cặp số từ số 00 đến 99. Giá trị mỗi cặp số mua bao nhiêu, là tùy người chơi, việc đối chiếu, thanh toán trúng thưởng là đối chiếu với hai số cuối bất kỳ của các giải trong tất cả các giải thưởng của xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày hôm đó. Nếu hai cặp số của người chơi trùng với hai cặp số cuối bất kỳ của một trong các giải thưởng của xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi trúng “lô xiên 2”, nếu ba cặp số của người chơi trùng với ba cặp số cuối bất kỳ của một trong các giải thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi trúng “lô xiên 3” và nếu bốn cặp số của người chơi trùng với bốn cặp số cuối bất kỳ của một trong các giải thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi trúng “lô xiên 4”. Trong trường hợp người chơi trúng “lô xiên 2” thì Bùi Đại L phải thanh toán cho người chơi với số tiền trúng thưởng có giá trị gấp 10 lần số tiền người chơi đã bỏ ra mua, trong trường hợp người chơi trúng “lô xiên 3” thì L phải thanh toán cho người “trúng lô” với số tiền trúng thưởng có giá trị gấp 40 lần số tiền người chơi đã bỏ ra mua các cặp số và trường hợp người chơi trúng “lô xiên 4” thì Bùi Đại L phải thanh toán cho người “trúng lô” với số tiền trúng thưởng có giá trị gấp 100 lần số tiền người chơi đã bỏ ra mua các cặp số. Ngược lại, nếu không có người chơi nào “trúng lô xiên” thì Bùi Đại L sẽ được hưởng toàn bộ số tiền của người chơi đã bỏ ra mua các cặp số lô xiên đó.

Hi 17 giờ 20 phút ngày 26/09/2019, Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Đ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra hành chính đã phát hiện tại sân trước cửa gia đình nhà Bùi Đại L đang có hành vi bán các số lô, đề trái phép cho Hoàng Văn T sinh năm 1962 trú tại thôn Y, xã Y, huyện N với số tiền 64.000 đồng. Sau khi Tiến đưa tiền thì L đang viết số lô, đề vào tờ cáp đề đề chuẩn bị đưa cho Tiến đã bị Tổ công tác phát hiện thu giữ của Bùi Đại L 01 tờ cáp đề ngày 26/9/2019 có ghi các chữ số và chữ ký của Bùi Đại L; số tiền 64.000 đồng; 01 Bảng tổng hợp lô, đề ngày 26/9/2019 có ghi các chữ số và chữ ký của Bùi Đại L; 01 bút bi mực đen; 16 cáp đề dùng để ghi các số lô, đề phía sau cuống vé lô tô và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu xanh lắp sim số 0942.533.213.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bùi Đại L còn thừa nhận: Trong ngày 26/9/2019 những người sử dụng điện thoại nhắn tin đến điện thoại nhãn hiệu Mobell, màu xanh lắp sim số 0942.533.213 của L để mua số lô, đề gồm: Phạm Thị H sinh năm 1968 trú tại bản C, xã C, huyện N; Nguyễn Thế D sinh năm 1966 trú tại thôn Ph, xã Đ, huyện N; Hoàng Văn A sinh năm 1963 trú tại phố T, thị trấn N, huyện N; Nguyễn Quyết T sinh năm 1990 trú tại thôn Th, xã V, huyện N; Nguyễn Tòng Kh sinh năm 1987 trú tại thôn C, xã V, huyện N. Cụ thể việc đánh bạc giữa L và những người chơi như sau:

Phạm Thị Hánhsử dụng điện thoại nhãn hiệu ViVo 1801 lắp sim số 0368.751.663 nhắn tin vào điện thoại của L để mua 08 cặp số đề “loại 2 số”, 06 số đề “loại 3 số” với số tiền là 1.260.000 đồng; Nguyễn Thế D sử dụng điện thoại nhãn hiệu Nokia 230 lắp sim số 0943.608.023 nhắn tin vào điện thoại của L để mua 02 cặp số đề “loại 2 số”, 04 cặp số đề “loại 3 số”, 02 cặp số “Lô Hà Nội”, 03 cặp “Lô xiên 2” và 01 cặp “Lô xiên 3” với số tiền 1.300.000 đồng; Hoàng Văn A sử dụng điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim số 0382.384.740 nhắn tin vào điện thoại của L để mua 15 cặp số đề “loại 2 số” với số tiền là 3.190.000 đồng; Nguyễn Quyết T sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S, màu trắng lắp sim số 0917.784.392 nhắn tin vào điện thoại của L để mua 04 cặp số đề “loại 2 số” với số tiền là 150.000 đồng; Nguyễn Tòng Kh sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S, màu vàng lắp sim số 0917.364.517 nhắn tin vào điện thoại của L để mua 02 cặp số “Lô Hà Nội” với số tiền là 115.000 đồng; Hoàng Văn Tđến nhà L để mua 02 cặp số đề “loại 2 số” và 01 số đề “loại 3 số” với số tiền là 64.000 đồng (bị phát hiện khi kiểm tra hành chính).

Do hành vi đánhbạc của Bùi Đại L với những người chơi bị phát hiện, ngăn chặn trước thời điểm mở thưởng ngày 26/9/2019 của “Xổ số kiến thiết miền Bắc” nên tổng số tiền đA bạc trong ngày 26/9/2019 của Bùi Đại L được xác định là: 6.079.000 đồng. Trong tổng số tiền 6.079.000 đồng chỉ có Hoàng Văn T đã thanh toán cho L số tiền 64.000 đồng, còn lại Kh, D, A, T, Kh chưa thanh toán cho L.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Thị H 01 điện thoại nhãn hiệu ViVo 1801 lắp sim số 0368.751.663; của Nguyễn Tòng KhA 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S, màu vàng lắp sim số 0917.364.517; của Nguyễn Quyết T 01 nhãn hiệu Iphone 5S, màu trắng lắp sim số 0917.784.392. Qua kiểm tra tin nhắn tại các điện thoại thu giữ của H, Kh đều phát hiện nội dung đánh bạc phù hợp với nội dung tin nhắn trong điện thoại thu giữ của Bùi Đại L. Riêng đối với chiếc điện thoại thu giữ của T không phát hiện các nội dung đánh bạc với Bùi Đại L. T khai nhận đã xóa hết các tin nhắn liên quan đến việc mua bán số lô, đề với L trước khi giao nộp điện thoại cho Cơ quan điều tra. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 230 lắp sim số 0943.608.023 của Nguyễn Thế D và 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim số 0382.384.740 của Hoàng Văn A Cơ quan điều tra không thu giữ được do A, D đã làm mất các điện thoại lắp sim nêu trên.

Tuy nhiên D, A và T đều thừa nhận hành vi đánh bạc của mình với L phù hợp chi tiết như Bảng tổng hợp lô, đề của L đã bị Cơ quan điều tra thu giữ.

Tại bản cáo trạng số 88/CT -VKSNQ ngày 01/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Bùi Đại L ra trước tòa để xét xử về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của Bùi Đại L đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Đại L phạm tội “Đánh bạc” Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo 22.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi mực đen đen; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell gắn sim số 0942 533 213 thu giữ của Bùi Đại L. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 64.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.

Lời nói sau cùng của bị cáo biết lỗi về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản vi phạm hành chính, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tang vật đã thu giữ. Mặt khác được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Trong ngày 26/9/2019 tại nhà mình ở Thôn L, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình Bùi Đại L đã có hành vi sử dụng 01 điện thoại di động có mạng viễn thông để nhận và gửi các tin nhắn trao đổi, mua bán các số lô, số đề đánh bạc được thua bằng tiền với Phạm Thị H, Nguyễn Thế D, Hoàng Văn A, Nguyễn Quyết T, Nguyễn Tòng Kh với số tiền là 6.079.000 đồng.

Ti phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Điều 321. Tội đánh bạc 1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…………………………………………

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, T nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy:

Hành vi bán số lô số đề trái phép nhằm thu lời bất chính của bị cáo là cố ý, tính chất tội phạm là ít nghiêm trọng đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân là nguyên nhân gây nên nhiều tội phạm khác.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm mục đích tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm như vậy mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung cũng như giúp bị cáo có thời gian cải tạo rèn luyện mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên xét bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Về tình tiết T nặng: Bị cáo không có. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Từ những nhận định trên xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe và giáo dục đối với bị cáo.

Đi với hành vi đánh bạc của Phạm Thị H, Nguyễn Thế D, Hoàng Văn A, Nguyễn Quyết T, Nguyễn Tòng Kh. Quá trình điều tra xác định bản thân những người này không có tiền án, tiền sự, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền đánh bạc trong ngày 26/9/2019 đối với H, Tiến, D, A, T, Kh. Đồng thời tịch thu các điện thoại có gắn sim của H, T ,D, Kh có liên quan đến hành vi đánh bạc có căn cứ.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 6.079.000 đồng là tiền bị cáo đánh bạc với các đối tượng khác. Do hành vi đánh bạc của bị cáo với những người chơi bị phát hiện, ngăn chặn trước thời điểm mở thưởng ngày 26/9/2019 của “Xổ số kiến thiết miền Bắc” vì vậy chỉ có Hoàng Văn T đã thanh toán cho bị cáo số tiền 64.000 đồng, còn lại H, D, A, T, Kh chưa thanh toán cho bị cáo. Số tiền Hoa, D , A, T, Kh chưa thanh toán cho bị cáo đã bị Cơ quan công an tịch thu sung công quỹ nhà nước. Vì vậy chỉ tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo là 64.000 đồng - Đối với điện thoại di động ViVo 1801 thu của Phạm Thị H và điện thoại di động Iphone 5S thu của Nguyễn Tòng Kh; 01 điện thoại di động Iphone 5S thu của Nguyễn Quyết T, quá trình điều tra đã chứng minh H và T, Kh dùng điện thoại di động nhắn tin chơi lô, đề với L, Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính và tịch thu 3 điện thoại di động nêu trên là có căn cứ.

- Đối với 01 tờ cáp đề ngày 26/9/2019 và 01 bảng tổng hợp số lô, đề ngày 26/9/2019, 16 cáp đề dùng để ghi số lô, đề thu giữ của Bùi Đại L được chuyển theo hồ sơ vụ án là phù hợp.

- Đối với 01 bút bi mực đen không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Mobell gắn sim số 0942.533.213 thu giữ của Bùi Đại L là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Đại L phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Đại L 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi mực đen không còn giá trị sử dụng;

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Mobell gắn sim số 0942.533.213 thu giữ của Bùi Đại L .

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 64.000 đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngàyvà ủy nhiệm chi giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N ).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Bùi Đại L phải nộp là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

 


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 96/2019/HS-ST ngày 20/11/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:96/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về