Bản án 96/2019/HNGĐ-ST ngày 28/05/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 96/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/05/2019 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 288/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mai Ngọc Th, sinh năm 1994 (có mặt).

Đa chỉ: Số 187, ấp 3, xã TV, thành phố C, tỉnh M.

2. Bị đơn: Anh Trần Thanh Nh, sinh năm 1983 ( vắng mặt).

Đa chỉ: Số 293B, ấp 2, xã TV, thành phố C, tỉnh M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 22/4/2019 và tại phiên tòa chị Mai Ngọc Th trình bày: Chị và anh Trần Thanh Nh sống chung vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TV, thành phố C, tỉnh M. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2018 giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Nh sống không chung thủy có quan hệ tình cảm với nhiều người phụ nữ khác bên ngoài, không quan tâm chăm sóc vợ con, hiện chị và anh Nh đã sống ly thân cách nay khoảng 02 tháng. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nh.

Về con chung: Chị Th xác định có một con chung tên Trần Thiên P, sinh ngày 22/01/2016, hiện cháu P đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị Th yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Th khai không có.

Về nợ chung: Chị Th khai không có nợ ai và cũng không ai nợ lại anh, chị.

- Tại bản tự khai, biên bản hoài giải ngày 22/4/2019 anh Trần Thanh Nh trình bày:

Về thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn đúng như chị Th trình bày. Anh thừa nhận có nhắn tin với người phụ nữ khác nhưng chỉ dừng lại ở quan hệ bạn bè. Anh xác định vẫn còn tình cảm với chị Th, anh hứa sẽ khắc phục, sửa chữa lỗi lầm nên anh xin Tòa án hàn gắn, đoàn tụ để vợ chồng tiếp tục chung sống, nuôi dạy con và không đồng ý ly hôn với chị Th.

Về con chung: Anh Nh xác định có một con chung tên Trần Thiên P, sinh ngày 22/01/2016, hiện cháu P đang sống chung với chị Th. Trường hợp Tòa án giải quyết anh và chị Th ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị Thăm nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Nh khai không có.

Về nợ chung: Anh Nh khai không có nợ ai và cũng không ai nợ lại anh, chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Thanh Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nh theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Th và anh Nh tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau nên quan hệ hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Qua trình bày của các đương sự thấy rằng: Chị Th cho rằng mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Nh thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh Nh sống không chung thủy có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài, không quan tâm chăm sóc vợ, con và chị có nhiều mâu thuẫn với gia đình bên chồng, hiện vợ chồng đã ly thân khoảng 02 tháng. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh Nh và không thể tiếp tục chung sống được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nh.Về phần anh Nh vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại phiên hòa giải anh cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn lớn, anh vẫn còn thương vợ, anh mong muốn được hàn gắn để cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con chung nên anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Th.

Qua xem xét lời khai của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng mối quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh Nh là tự nguyện không bị ai ép buộc, trong quá trình chung sống chị Th cho là có nhiều mâu thuẫn do anh Nh có người phụ nữ khác, anh Nh cho là anh có nhắn tin với người phụ nữ khác nhưng chỉ dừng lại ở mức độ bạn bè chưa đi quá giới hạn và vợ chồng thực tế không có mâu thuẫn gì lớn đến mức phải ly hôn, trước đây anh có không quan tâm đến vợ con nhưng anh sẽ khắc phục lo làm ăn để chăm lo cho gia đình. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa chị Th vẫn cương quyết xin ly hôn mặc dù Hội đồng xét xử đã động viên hàn gắn nhưng xét thấy quan hệ hôn nhân là sự tự nguyện từ hai phía, nên cần phải có sự xây dựng và thống nhất của cả hai, hiện nay chị Th cho là không còn tình cảm với anh Nh và không thể chung sống với anh Nh được nữa và chị xác định trường hợp Tòa án giải quyết không chấp nhận cho chị ly hôn thì chị cũng không về chung sống với anh Nh. Mặc dù anh Nh mong muốn được hàn gắn nhưng xét thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh Nh đã rạn nứt không thể hàn gắn, cho dù có về chung sống thì mối quan hệ hôn nhân này cũng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho chị Th ly hôn với anh Nh.

[3] Về con chung: Chị Th và anh Nh xác định có 01 người con chung tên Trần Thiên Phúc, sinh ngày 22/01/2016, hiện cháu Phúc đang sống chung với chị Th. Khi ly hôn chị Th yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con, tại biên bản hòa giải anh Nh thống nhất giao cháu P cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nh không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc tự nguyện, thống nhất của chị Th và anh Nh không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hiện nay vẫn còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên được chấp nhận. Mặc dù, giao con cho chị Th nuôi nhưng nếu trong thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng chị Th gặp khó khăn hoặc cản trở việc anh Nh thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đối với con thì anh Nh vẫn có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản chung: Chị Th, anh Nh xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị Th, anh Nh khai không có, không xem xét.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình chị Th phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Ngọc Th.

Về hôn nhân: Chị Mai Ngọc Th được ly hôn với anh Trần Thanh Nh.

Về con chung: Giao cháu Trần Thiên P, sinh ngày 22/01/2016 cho chị Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dạy. Anh Nh không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nh không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không xem xét.

Về nợ chung: Không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Chị Th phải nộp số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), vào ngày 02/4/2019, chị Th đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0002304 được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Mai Ngọc Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Thanh Nh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 96/2019/HNGĐ-ST ngày 28/05/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:96/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về