Bản án 94/2019/HS-ST ngày 01/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 94/2019/HS-ST NGÀY 01/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 01 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ, Tòa án nhân dân thành phố B đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2019/HSST ngày 13/02/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2019/QĐXXST-HS ngày 15/02/2019 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh L (tên gọi khác: Ngang), sinh năm 1994 tại tỉnh Đ; Nơi cư trú: khu 3, ấp Phước H, xã Long H; thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp:không;Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính:Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh S; sinh năm: 1968 (còn sống) và bà: Nguyễn Thị B sinh năm: 1969 (còn sống); Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị ngoại tại ngoại. Có mặt.

2. Nguyễn Văn Đen, sinh năm 1988 tại tỉnh Đ; Hộ khẩu thường trú: khu 3, ấp Phước Hxã Long Hthành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú hiện nay: ấp Rạch Chiếc, xã Ph T, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp:không;Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn X; sinh năm: 1957 (còn sống) và bà: Huỳnh Thị S; sinh năm: 1957 (còn sống); Có vợ: Võ Thị L, sinh năm 1994 và 03 con (lớn nhất sinh năm 2012 và nhỏ nhất sinh năm 2015); Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị ngoại tại ngoại.

* Người bị hại: Anh Trần Văn H, sinh năm 1983

Trú tại: 530, tổ 11, khu 4, ấp 1, xã A, thành phố B, tỉnh Đ.

(Các bị cáo có mặt; người bị hại vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 20 giờ ngày 25/01/2018, Nguyễn Văn Đ điều khiển xuồng máy chở Huỳnh L đi trên kênh thuộc khu vực xã Long H và xã A, thành phố B để bắt còng về bán. Khi đi đến khu vực Cầu Mới thuộc ấp 1, xã A, thành phố B thì cả hai phát hiện có 03 chiếc xuồng máy đang neo đậu ven bờ nhưng không có người trông coi nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp và rủ Đcùng tham gia thì Đ đồng ý. Đ điều khiển xuồng máy của mình áp sát 01 chiếc xuồng máy bằng gỗ sơn màu vàng - đỏ dài 5,8 m, rộng 1,3 m có gắn động cơ hiệu Kute 4 và chân vịt bằng kim loại thuộc quyền sở hữu của anh Trần Văn H, ngụ tại tổ 11, khu 4, ấp 1, xã A, thành phố B làm chủ, rồi Long nhảy qua chiếc xuồng của anh H, tháo dây neo ném qua cho Đcột vào đuôi xuồng của Đ. Sau đó Đđiều khiển xuồng của mình kéo chiếc xuồng máy của anh H đem đi cất giấu tại khu vực bờ kênh gần cầu Thủ Nguyên, xã Long H thành phố B. Đến ngày 27/01/2018, Lđã bán chiếc xuồng máy của anh H cho Trần Thanh T, ngụ tại khu 2, ấp Phước H, xã Long H, thành phố B được 3.000.000 đ (Ba triệu đồng) và chia cho Đ 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Số tiền được chia cả hai đã tiêu xài hết. Đến ngày 18/4/2018, anh H phát hiện chiếc xuồng máy của mình đang neo đậu tại khu vực bến đò ở ấp Phước H, xã Long H, thành phố B nên đã trình báo Công an xã Long H lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xác minh. Qua truy xét, ngày 15/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bđã khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Huỳnh L và Nguyễn Văn Đ, về tội “Trộm cắp tài sản” để điều tra, xử lý.

Tại bản kết luận định giá số 148/TCKH-HĐĐG ngày 25/05/2018, của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “01 chiếc xuồng máy bằng gỗ sơn màu vàng- đỏ dài 5,8 m, rộng 1,3 m có gắn động cơ hiệu Kute 4 và chân vịt bằng kim loại trị giá 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng)” Vật chứng của vụ án là 01 chiếc xuồng máy bằng gỗ sơn màu vàng- đỏ dài 5,8 m, rộng 1,3 m có gắn động cơ hiệu Kute 4 và chân vịt bằng kim loại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho anh Trần Văn H Về dân sự: anh Trần Văn Hkhông yêu cầu bồi thường.

Đi với Trần Thanh T khi mua chiếc xuồng máy, Tuấn không biết là tài sản do Huỳnh L và Nguyễn Văn Đ phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý hình sự.

Tại bản cáo trạng số 86/CT/VKS-BH ngày 30/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố đã truy tố các bị cáo Huỳnh L và Nguyễn Văn Đvề tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Điều 173, khoản 1 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ Luật hình sự, xử phạt các bị cáo mức án:

- Huỳnh L mức án từ: 10 tháng đến 12 tháng tù giam.

- Nguyễn Văn Đmức án từ: 08 tháng đến 10 tháng tù giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bị hại;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay qua phần thẩm vấn công khai, các bị cáo đã thừa nhận vào ngày 25/01/2018, Huỳnh L rủ Nguyễn Văn Đ trộm cắp một chiếc xuồng máy bằng gỗ sơn màu vàng - đỏ dài 5,8 m, rộng 1,3 m có gắn động cơ hiệu Kute 4 và chân vịt bằng kim loại của anh Trần Văn H, có giá trị theo kết luận định giá là 25.000.000đ, đang neo đậu tại khu vực Cầu Mới thuộc ấp 1, xã A, thành phố Bđem đi cất giấu rồi cùng nhau mang đi tiêu thụ, lấy tiền chia nhau tiêu xài. Lời khai nhận này của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời khai người bị hại. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng số 86/CT/VKS-BH ngày 30/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân TP.B đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trị an xã hội tại địa phương. Các bị cáo tuy tuổi đời còn rất trẻ, nhưng lại không chịu tu dưỡng bản thân, rèn luyện để trở thành một người công dân có ích cho xã hội, lại vì lòng tham bộc phát nhất thời, đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của anh Trần Văn Hvà bán lấy tiền chia nhau tiêu xài.

Đây là một vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, tổ chức, phân công nhiệm vụ cụ thể trước đó giữa các bị cáo. Về vai trò, trong vụ án này, bị cáo L đóng vai trò là người rủ rê bị cáo Nguyễn Văn Đ cùng thực hiện tội phạm. Còn bị cáo Đ lại thực hiện tội phạm một cách tích cực. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc ở tính chất, mức độ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện hiện để xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Tuy nhiên, khi lượng hình phạt đối với các bị cáo, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo Lvà Đ đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn do tài sản đã được thu hồi trả lại người bị hại; nhân thân đều chưa tiền án, tiền sự. Bản thân các bị cáo đều thuộc thành phần lao động nghèo; hoàn cảnh gia đình khó khăn; trình độ học vấn thấp, trong đó bị cáo Lkhông biết chữ; bị cáo Đ là lao động chính trong gia đình, có 03 con còn nhỏ; vợ không có việc làm; các bị cáo đều phạm tội do lòng tham bộc phát nhất thời, không có sự dự mưu, chuẩn bị từ trước khi thực hiện tội phạm. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét trình độ học vấn thấp của các bị cáo cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong nhận thức về pháp luật; vì hoản cảnh gia đình quá khó khăn; sự quản lý lỏng lẻo về tài sản của người bị hại đã dẫn đến việc các bị cáo phải đứng trước Tòa ngày hôm nay.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử sau khi xem xét cũng như đã đánh giá toàn diện; khách quan về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; về hoàn cảnh gia đình, về nhân thân, có nơi cư trú rõ ràng. Đồng thời để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta, nặng về giáo dục và nhẹ về hình phạt, cũng nhằm mục đích tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo, giáo huấn bản thân để trở thành công dân tốt cho xã hội. Do đó, không cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam và nhận thấy việc áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp và có căn cứ.

Ngoài ra, đây là vụ án có tính chất đồng phạm, nên cần áp dụng quy định tại Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét cho các bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh L (tên gọi khác là Ngang) và Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ Luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Huỳnh L (tên gọi khác là Ngang): 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ: 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Long cho UBND xã Long Hthành phố B, tỉnh Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho UBND xã Phước T, thành phố Biên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo Huỳnh L và Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Long H và UBND xã Phước T trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hính phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 94/2019/HS-ST ngày 01/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:94/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 01/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về