Bản án 94/2017/HSST ngày 25/07/2017 về tội cướp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 94/2017/HSST NGÀY 25/07/2017 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Ngày 25/7/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 103/HSST ngày 12/7/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ VĂN T, sinh ngày 15/10/1999 (tính đến ngày phạm tội là 17 tuổi 5 tháng 28 ngày). Trú tại: Thôn V B, xã Th T, huyện Th T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12. Con ông Lê Văn T1. Con bà Tống Thị Đ1. Tiền án, tiền sự: Theo Danh chỉ bản số 000000197 do Công an huyện Đông Anh, TP. Hà Nội lập ngày 29/4/2017 thì bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 28/4/2017. Tạm giam từ ngày 04/5/2017 đến nay. Có mặt.

Người bị hại:

Ông Trần Ngọc S, sinh năm 1954.

Trú tại: Khu 4, xã Th V, huyện Th B, tỉnh Phú T. Có mặt.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Trung K1, sinh năm 1984.

Trú tại: Thôn B, xã K Ch, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

2. Anh Lê Công M1, sinh năm 1975;

Trú tại: Tổ 34, phường Tr H, quận C G, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo:

Ông Lê Văn T1, sinh năm 1974 và bà Tống Thị Đ1, sinh năm 1976 - Là bố, mẹ bị cáo.

Cùng địa chỉ: Thôn V B, xã Th T, huyện Th T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt ông T1, vắng mặt bà Đ1 (có đơn xin vắng mặt).

Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Đỗ Thị H1 - Luật sư - Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lê Văn T bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Lê Văn T không có công ăn việc làm nên nảy sinh ý định cướp tài sản (xe máy) của những người làm nghề xe ôm để bán lấy tiền tiêu sài. T chuẩn bị sẵn 01 con dao (loại dao nhỏ, gọt hoa quả) làm công cụ để thực hiện hành vi cướp tài sản.

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 12/4/2017, bị cáo T đến đường Nguyễn Xiển thuộc phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội thuê ông Trần Ngọc S (sinh năm 1954, trú tại: Khu 4, xã Th V, huyện Th B, tỉnh Phú T) chở xe ôm về Hồ Tây. Ông S sử dụng xe máy nhãn hiệu Honda WaveS BKS: 29Y9-3179, màu đen xám (chiếc xe ông S mượn của con rể là anh Lê Công M1, sinh năm 1975; Trú tại: Tổ 34, phường Tr H, quận C G, TP. Hà Nội) chở bị cáo T đi đến Hồ Tây. Khi đến Hồ Tây, T tiếp tục yêu cầu ông S chở sang Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội và bảo ông S đi vào nghĩa trang Thôn Đ1, xã Đ2, huyện Đông Anh. Thấy đường cụt, ông S dừng xe và nói: “Cho chú xin tiền chú về”. Bị cáo T xuống xe và nói: “Chờ cháu một tý”, T sử dụng điện thoại vờ gọi cho người khác để đánh lạc hướng. Ông S quay xe lại và vẫn ngồi trên xe. T nhảy lên ngồi yên xe phía sau, tay trái xiết cổ ông S, tay phải giữ đầu ông S. Ông S chống cự, T rút 01 con dao, đã chuẩn bị sẵn, từ trong túi lưới, ở phía ngoài chiếc ba lô đang đeo trên người, dí vào cổ ông S. Ông S đưa tay lên giữ lấy lưỡi dao, hai bên giằng co nhau và cùng ngã xuống đất, xe đổ. T chạy đến chiếc xe máy nhãn hiệu Honda WaveS BKS: 29Y9-3179 của ông S (xe vẫn đang nổ máy) lấy xe và tẩu thoát. Ông S chỉ kịp nhặt 01 viên gạch ở ven đường ném trúng vai của T rồi đi bộ ra ngoài nghĩa trang kêu cứu và được anh Hà Văn V (sinh năm 1968, HKTT: Thôn Đ1, xã Đ2, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội) đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương. Bị cáo T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda WaveS BKS: 29Y9-3179 đến cửa hàng sửa chữa xe máy “Trung K” tại Đội 6, Thôn B, xã K Ch, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội gặp anh Lê Trung K1 (sinh năm 1984, HKTT: Thôn B, xã K Ch, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội - Là chủ cửa hàng) thỏa thuận bán xe cho anh1 với giá 3.000.000 đồng. Khi bán xe T nói với anh1 chiếc xe là của T, xe bị mất giấy đăng ký. T viết giấy bán xe cam đoan không phải xe trộm cắp, cầm cố hay vi phạm pháp luật, để lại bản phô tô Giấy chứng minh thư nhân dân và hẹn sẽ làm lại Giấy đăng ký xe mang đến cho anh1.

Cùng ngày, ông S đến Công an huyện Đông Anh, TP. Hà Nội trình báo sự việc. Ông S đề nghị cơ quan Công an điều tra đối tượng đã cướp tài sản của ông xử lý theo quy định pháp luật.

Vật chứng tạm giữ:

- Thu của ông Trần Ngọc S: 01 áo phông cộc tay màu xám kẻ dính máu (ông S dùng áo bịt vết thương trên cổ mình).

- Thu của anh Lê Công M1: 01 Giấy đăng ký xe máy nhãn hiệu Honda WaveS, màu đen xám, BKS: 29Y9-3179, SK: 917583, SM: 6740882 mang tên Lê Công M1.

- Thu của Lê Văn T: 01 chiếc ba lô màu đen có chữ Puma loại có hai quai đeo; 01 chiếc quần bò dài màu xanh có ghi chữ Levis; 01 đôi giày da màu xanh đen (là ba lô mang theo người, quần mặc, giày đi của Lê Văn T thực hiện hành vi cướp tài sản ngày 12/4/2017).

- Thu của anh Lê Trung K1: 01 xe máy nhãn hiệu Honda WaveS BKS: 29Y9- 3179, SK: 917583, SM: 6740882; 01 giấy bán xe (tên người bán là Lê Văn T), 01 Giấy chứng minh thư nhân dân phô tô mang tên Lê Văn T.

- Thu giữ qua khám nghiệm hiện trường: 01 con dao chuôi bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 12cm, rộng 3,3cm, đầu tù (hung khí Lê Văn T sử dụng để cứa cổ ông S); 01 khẩu trang trang caro, màu trắng - xanh - ghi; 02 mũ bảo hiểm nửa đầu; 01 mũ lưỡi chai màu trắng, nhãn hiệu Adidas; 01 viên gạch kích thước (20,5x9,3x5)cm.

- Thu giữ trong quá trình rà soát camera: 01 USB chứa các đoạn video có hình ảnh ông Trần Ngọc S điều khiển xe máy chở bị cáo Lê Văn T ngày 12/4/2017.

Đối với thương tích của ông Trần Ngọc S: Tại Giấy chứng nhận thương tích số 04 ngày 18/4/2017, Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương xác định ông Trần Ngọc S có những thương tích sau: 01 vết thương dài 10cm ngay bờ trên sụn giáp, đứt cơ giáp móng, không tổn thương khí quản và bó mạch cảnh hai bên, mép gọn, sạch; 01 vết thương lóc da kích thước (3x2) cm dưới sụn giáp lệch trái, gọn, sạch; Nhiều vết rách nhỏ nông ngón 4 tay phải, ngón 2, 3, 4 tay trái.

Ngày 10/5/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn hại % sức khỏe của ông Trần Ngọc S. Ngày 18/5/2017 Trung tâm pháp y - Sở y tế Hà Nội có Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 403, kết luận: Các sẹo vết thương phần mềm vùng cổ ảnh hưởng thẩm mỹ 11%; Các sẹo vết thương phần mềm hai bàn tay 03%. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của ông Trần Ngọc S là 14% (mười bốn phần trăm), nhiều khả năng do vật sắc gây nên.

Ngày 14/4/2017, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số 100 yêu cầu định giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda WaveS, màu đen, BKS: 29Y9-3179. Ngày 04/5/2017 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh có kết luận số 179, kết luận: Trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda WaveS, BKS: 29Y9-3179 bị chiếm đoạt là 5.400.000 đồng.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda WaveS, BKS: 29Y9-3179, SK: 917583, SM: 6740882. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là của anh Lê Công M1, tuy nhiên anh M1 đã cho ông Trần Ngọc S mượn chiếc xe máy trên để ông S đi xe ôm. Ngày 18/5/2017 Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe trên cho ông Trần Ngọc S là có căn cứ.

Đối với 01 Giấy đăng ký xe máy nhãn hiệu Honda WaveS, màu đen xám, BKS: 29Y9-3179, SK: 917583, SM: 6740882 mang tên Lê Công M1. Ngày 18/5/2017 Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho anh Lê Công M1 là có căn cứ, đúng quy định.

Về phần vật chứng:01 áo phông cộc tay màu xám kẻ dính máu; 01 chiếc ba lô có chữ Puma; 01 chiếc quần bò có ghi chữ Levis; 01 đôi giày da màu xanh đen; 01 giấy bán xe; 01 chứng minh thư nhân dân phô tô mang tên Lê Văn T; 01 con dao; 01 khẩu trang trang caro; 02 mũ bảo hiểm nửa đầu; 01 mũ lưỡi chai màu trắng, nhãn hiệu Adidas; 01 viên gạch kích thước (20,5x9,3x5)cm; 01 USB, chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.

Về dân sự:

Anh Lê Trung K1 mua chiếc máy nhãn hiệu Honda WaveS, màu đen xám, BKS: 29Y9-3179 của bị cáo T nhưng không biết là chiếc xe máy do T phạm tội mà có nên không đề cập xử lý. Ngày 06/6/2017 ông Lê Văn T1 (sinh năm 1974; HKTT: Thôn V B, xã Th T, huyện Th T, tỉnh Thanh Hóa) - Là bố bị cáo T, bồi thường cho anh1 3.000.000 đồng, anh1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường thêm. Ngày 23/5/2017, ông Lê Văn T1 bồi thường cho ông Trần Ngọc S 15.000.000 đồng. Ông S không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thêm, đề nghị xử lý nghiêm bị cáo T.

Tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 12/7/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, TP. Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội Cướp tài sản vi phạm Điểm d, đ khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự 1999.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, TP. Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 133, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 69, Điều 74 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

Bị cáo Lê Văn T: Từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù.

Về phần dân sự: Đã giải quyết xong.

Về vật chứng: 01 áo phông cộc tay màu xám kẻ dính máu; 01 chiếc ba lô có chữ Puma; 01 chiếc quần bò có ghi chữ Levis; 01 đôi giày da màu xanh đen; 02 mũ bảo hiểm nửa đầu; 01 mũ lưỡi chai màu trắng, nhãn hiệu Adidas, 01 viên gạch kích thước (20,5x9,3x5)cm, 01 USB, 01 con dao; 01 khẩu trang caro: Bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. 01 giấy bán xe; 01 chứng minh thư nhân dân phô tô mang tên Lê Văn T: Tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

Bào chữa cho bị cáo Luật sư Đỗ Thị H1 trình bày: Nhất trí về tội danh và điều luật mà Viện Kiểm sát dã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo sinh ra trong gia đình có nhân thân tốt; Gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người liên quan, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại; Khi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên (tính đến ngày phạm tội là 17 tuổi 5 tháng 28 ngày) nên sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 133, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 69, Điều 74 Bộ luật Hình sự; Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T khai: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/4/2017, tại nghĩa trang Thôn Đ1, xã Đ2, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội, bị cáo có hành vi sử dụng phương tiện nguy hiểm (con dao) tấn công gây thương tích cho người bị hại 14% để Cướp tài sản của ông Trần Ngọc S là: 01 xe máy nhãn hiệu Honda WaveS BKS: 29Y9-3179, SK: 917583, SM: 6740882, trị giá chiếc xe máy là 5.400.000 đồng.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người liên quan, phù hợp với tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn T phạm tội Cướp tài sản vi phạm điểm d, đ khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì tội phạm không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự công cộng, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song do thiếu tu dưỡng, đua đòi ăn chơi, tham lam vụ lợi và ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng với tình tiết định khung là dùng phương tiện nguy hiểm (con dao) gây thương tích cho người bị hại 14% sức khỏe vi phạm các điểm d, đ khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm minh tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo.

Khi lượng hình Toà án xét: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người liên quan, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Khi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

- Về dân sự:

Đã được giải quyết xong; Cụ thể: Ngày 06/6/2017, ông Lê Văn T1 - Là bố bị cáo T, bồi thường cho anh Lê Trung K1 3.000.000 đồng, anh1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường thêm. Ngày 23/5/2017, ông Lê Văn T1 bồi thường cho ông Trần Ngọc S15.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay ông Trần Ngọc S không yêu cầu gì về phần dân sự  nữa. Anh Lê Công M1 đã nhận lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda WaveS BKS: 29Y9-3179 và Giấy đăng ký xe máy mang tên anh, anh không yêu cầu gì nữa, do đó  Tòa án không phải giải quyết.

- Về vật chứng:

01 áo phông cộc tay; 01 chiếc ba lô; 01 chiếc quần bò có ghi chữ Levis; 01 đôi giày da; 01 con dao; 01 khẩu trang trang caro; 02 mũ bảo hiểm nửa đầu; 01 mũ lưỡi chai màu trắng, 01 viên gạch kích thước (20,5x9,3x5)cm; 01 USB là các công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng phạm tội không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy. 01 giấy bán xe, 01 Giấy CMND phôtô coppy mang tên Lê Văn T là các chứng cứ vụ án nên tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên,

Tuyên bố:

QUYẾT ĐỊNH

Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 133, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 69, Điều 74 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

Bị cáo Lê Văn T: 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2017. Áp dụng các Điều 76, 99, 234 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Luật Thi hành án dân sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông cộc tay kẻ dính máu; 01 chiếc ba lô nhãn hiệu Puma; 01 chiếc quần bò nhãn hiệu Levis; 01 đôi giày da màu xanh đen; 01 giấy bán xe; 01 con dao chuôi bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao dài 12 cm, bản rộng 3,3cm, đầu tù; 01 khẩu trang trang caro màu trắng - xanh - ghi; 02 mũ bảo hiểm nửa đầu; 01 mũ lưỡi chai màu trắng, nhãn hiệu Adidas; 01 viên gạch kích thước (20,5x9,3x5)cm; 01 USB chứa các đoạn Video có hình ông Trần Ngọc S điều khiển xe máy chở Lê Văn T ngày 12/4/2017.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 giấy bán xe, 01 Giấy CMND phôtô coppy mang tênLê Văn T.

Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao ngày 19/7/2017 giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, người bị hại đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bà Tống Thị Đ1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.Anh Lê Công M1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án về phần có liên quan.

Anh Lê Trung K1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ về phần có liên quan ./.


101
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về