Bản án 94/2017/DS-ST ngày 29/09/2017 về tranh chấp hụi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 94/2017/DS-ST NGÀY 29/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 157/2017/TLST- DS ngày 30/6/2017 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 367/2017/QĐXXST-DS ngày 31/8/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 276/2017/QĐST-DS ngày 19/9/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lê Thị Hồng L, sinh năm 1959

Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1970 Dương Văn V, sinh năm 1970

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Các đương có mặt tại phiên tòa. Đối với ông V vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2017 của nguyên đơn, lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Vào ngày 11/6/2013 âm lịch, bà L có mở 01 dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng,02 tháng khui 01 lần, hụi có 21 chưng, ông V và bà Q chơi 02 chưng.

+ Chưng thứ nhất đến ngày 26/12/2013 âm lịch ông V và bà Q bỏ hụi được hốt, bỏ số tiền hụi 2.520.000 đồng, hốt được số tiền 54.660.000 đồng. Bà L đã chung tiền hụi đầy đủ cho ông V và bà Q, bà L giao tiền cho ông V và bà Q có làm biên nhận do ông V và bà Q ký tên. Ở chưng hụi này ông V và bà Q đóng hụi lại còn thiếu 13 lần đóng hụi chết X 5.000.000 đồng = 65.000.000 đồng.

+ Chưng thứ hai đến ngày 26/02/2014 âm lịch ông V và bà Q bỏ hụi được hốt, bỏ số tiền hụi 2.250.000 đồng, hốt được số tiền 61.500.000 đồng. Bà L đã chung tiền hụi đầy đủ cho ông V và bà Q, bà L giao tiền cho ông V và bà Q có làm biên nhận do ông V và bà Q ký tên. Ở chưng hụi này ông V và bà Q đóng hụi lại còn thiếu 13 lần đóng hụi chết X 5.000.000 đồng = 65.000.000 đồng.

Tổng cộng 02 chưng hụi ở dây hụi này bà Q và ông V còn thiếu lại bà L tổng số tiền 130.000.000 đồng. Sau đó ông V và bà Q có trả được cho bà L số tiền 8.000.000 đồng. Hiện nay còn thiếu lại 122.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn vào tháng 09/2016 âm lịch. Ở dây hụi này bà Lẹ đã thanh toán nghĩa vụ thay cho ông V và bà Q cho các hụi viên khác rồi.

Nay bà L yêu cầu Tòa án buộc ông V và bà Q trả số tiền 122.000.000 đồng.

- Lời trình bày bị đơn Nguyễn Thị Q có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Vào ngày 11/6/2013 âm lịch, bà L có mở 01 dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng, 02 tháng khui 01 lần, hụi có 21 chưng, vợ chồng bà Q và ông V chơi 02 chưng. Bà xác định thời gian hốt hụi, số tiền bỏ hụi, số tiền được hốt hụi của 02 chưng hụi theo như bà L trình bày là đúng, các lần bà L giao tiền hụi thì vợ chồng bà Q có làm biên nhận cho bà L. Bà Q xác định hiện nay còn thiếu lại bà L 13 lần hụi chết X 5.000.000 đồng X 02 chưng = 130.000.000 đồng. Hiện nay vợ chồng bà Q đã trả được 8.000.000 đồng, còn nợ lại bà L số tiền là 122.000.000 đồng. Ngoài ra bà Q còn xác định số tiền hốt hụi dùng vào mục đích sinh hoạt kinh tế của gia đình giữa bà Q và ông V, do làm ăn kinh tế gặp khó khăn nên không có khả năng trả cho bà L. Hụi hiện nay đã mãn vào tháng 09/2016 âm lịch. 

Nay bà Q đồng ý trả cho bà L số tiền 122.000.000 đồng, nhưng xin trả 01 tháng 1.000.000 đồng cho đến khi trả dứt nợ.

- Đối với bị đơn Dương Văn V: Tòa án đã triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và 02 lần để xét xử, nhưng ông V đều vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông V.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xéttại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thẩm quyền toà án: Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc “tranh chấp hụi”, nên Toà án nhân dân huyện T thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

 [2] Về quyền khởi kiện: Nguyên đơn cho rằng quyền và lợi ích của nguyên đơn bị bị đơn xâm hại, nên khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là phù hợp với quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

 [3] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập ông V hợp lệ 02 lần để xét xử, nhưng ông V đều vắng mặt không rõ lý do. Nên Toà án căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt ông V.

 [4] Về pháp luật áp dụng: Giao dịch dân sự giữa các đương sự được thực hiện trước ngày 01/01/2017 và hiện nay có tranh chấp, do đó áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết để giải quyết là phù hợp với Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

 [5] Xét về quan hệ tranh chấp: Căn cứ lời trình bày của các đương sự thì giữa bà L với bà Q, ông V có hợp đồng góp hụi với nhau, hiện nay các đương sự tranh chấp với nhau về nghĩa vụ thanh toán, nên xác định là tranh chấp giữa các đương sự là “tranh chấp hụi” theo quy định tại Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005.

 [6] Về nội dung tranh chấp: Bà L xác định đã thanh toán cho các hụi viên đối với toàn bộ số tiền hụi chết mà bà Q và ông V không đóng, tổng số tiền còn thiếu hiện nay là 122.000.000 đồng. Bà Q xác định hiện nay còn thiếu lại bà L tiền hụi chết với tổng số tiền 122.000.000 đồng, nhưng xin trả mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

+ Xét về trách nhiệm trả nợ: Bà Q xác định số tiền hốt hụi dùng vào mục đích sinh hoạt kinh tế của gia đình giữa bà Q và ông V, do làm ăn kinh tế gặp khó khăn, nên không có khả năng trả cho bà L, do đó xác định đây là giao dịch chơi hụi này là nhằm phục vụ nhu cầu thiếu yếu giữa bà Q và ông V, nên cần buộc bà Q và ông V có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ bà L yêu cầu là phù hợp với Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

+ Xét yêu cầu của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn: Hội đồng xét xử xét thấy, việc chơi hụi theo thỏa thuận giữa các đương sự là hụi có lãi và thuộc loại hụi

hưởng hoa hồng theo quy định Điều 17, Điều 24 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/11/2006 và nghĩa vụ của thành viên được thực hiện theo Điều 25 nghị định này quy định thì thành viên chơi hụi phải có nghĩa vụ góp phần hụi, trả lãi khi được lĩnh hụi, bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây thiệt hại. Thực tế bà Q và ông V đã lĩnh số tiền hụi, nhưng chưa thanh toán lại đầy đủ nghĩa vụ cho bà L và hiện nay còn thiếu lại tổng số tiền là 122.000.000 đồng, khoản tiền này hiện nay bà L đã trả thay cho bà Q và ông V, do đó ông V và bà Q phải có trách nhiệm trả lại số tiền này cho bà L là phù hợp với Điều 30 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/11/2006.

Từ những lập luận, phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà L. Buộc bà Q và ông V có trách nhiệm trả cho bà L tổng số tiền là 122.000.000 đồng.

[7] Về án phí:

Bà Q và ông V phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch là 5% đối với số tiền Tòa án buộc trả cho bà L theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đối số tiền tạm ứng án phí của bà L đã dự nộp trước được hoàn lại toàn bộ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 186, Điều 227Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 357, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17, Điều 24, Điều 25, Điều 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/11/2006 Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Hồng L. Buộc bà Nguyễn Thị Q và ông Dương Văn V có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 122.000.000 đồng (một trăm hai mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Q và ông V chậm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nói trên, thì hàng tháng bà Q và ông V còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch: Bà Q và ông V phải nộp là 6.100.000 đồng. Bà L đã dự nộp tạm ứng án phí trước với số tiền là 3.050.000 đồng theo biên lai thu số 0007119 ngày 27/6/2017 của chi cục thi hành án dân sự huyện T được hoàn lại toàn bộ.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từngày tuyên án. Đối với ông V có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 94/2017/DS-ST ngày 29/09/2017 về tranh chấp hụi

Số hiệu:94/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về