Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 30/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG 

BẢN ÁN 93/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN 

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2019/QĐXX-ST ngày 08 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà S, sinh năm 1979 (có mặt).

Đa chỉ: Cụm dân cư K, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông T, sinh năm 1973, (vắng mặt).

Đa chỉ: Cụm dân cư K, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại tòa nguyên đơn - bà S trình bày: Bà S và T tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2000 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang theo quy định pháp luật. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và có hai con chung tên, sinh ngày 28/7/2002 và K, sinh ngày 24/02/2015. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và hiện tại vợ chồng đã sống ly thân. Bà S làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn ông T vì tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Bà S có nguyện vọng nuôi con chung không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

* Bị đơn – ông T: Vng mặt.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà S khởi kiện xin ly hôn ông T có nơi đăng ký thường trú tại Cụm dân cư K, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố R. Bị đơn – ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà S và ông T tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Ủy ban nhân dân phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn cho ông bà ngày 05/7/2000 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà Sự khởi kiện xin ly hôn ông T với lý do: Thời gian sống chung vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Bà S và ông T đã sống ly thân, tình cảm không hòa giải đoàn tụ được. Bị đơn - ông T, đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật và ông T không có ý kiến gì đối với những yêu cầu xin ly hôn của bà S. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà S và ông T đã được Tòa án hòa giải đoàn tụ nhưng ông T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại tòa, bà S giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét yêu cầu của bà S là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà S xác định bà và ông T có hai con chung tên Q, sinh ngày 28/7/2002 và K, sinh ngày 24/02/2015. Bà S yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Yêu cầu nuôi con của bà S phù hợp nguyện vọng sống cùng mẹ của cháu Q, xét hai con chung đang sống cùng bà S nên giao bà S tiếp tục nuôi dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển tốt mọi mặt của các cháu. Căn khoản 1, 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Q và cháu K cho bà S nuôi dưỡng. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà S không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, ông T cũng không có ý kiến gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp cấp dưỡng sẽ giải quyết trong vụ án khác.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà S xác định không có tài sản chung và cam kết hiện nay không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T cũng không có ý kiến gì về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà S phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001564 ngày 20/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố R. Bà S đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

X: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà S được ly hôn với ông T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Q, sinh ngày 28/7/2002 và K, sinh ngày 24/02/2015 cho bà S nuôi dưỡng. Bà S không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà S xác định không có tài sản chung và cam kết hiện nay không có nợ chung, ông T cũng không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí ly hôn: Bà S phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001564 ngày 20/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố R. Bà S đã nộp đủ.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2019). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 30/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:93/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về