Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 24/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 93/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/04/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 77/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trƣơng Thị Họa M – sinh năm 1995. Địa chỉ: Khóm 9, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau

Bị đơn: Anh Nguyễn Triệu P – sinh năm 1986. Địa chỉ: Khóm 9, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau

Tại phiên tòa, chị M có mặt, anh P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03/4/2019 và tại phiên tòa, chị Trương Thị Họa M trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh P sống chung năm 2011, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn S vào năm 2013. Hiện tại vợ chồng chị đã ly thân nhau. Xét thấy cuộc sống chung không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh P.

Về con chung: Có hai người con chung là cháu Nguyễn Thiên P – sinh ngày 31/12/2013 và cháu Nguyễn Phúc H – sinh ngày 16/5/2015. Hai cháu hiện đang sống với anh P. Chị yêu cầu phía anh P tiếp tục nuôi con và chị thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị xác định tự thỏa thuận với anh P, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Nguyễn Triệu P đúng theo quy định pháp luật nhưng anh P không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Nguyễn Triệu P có nơi trú tại khóm 9, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Trương Thị Họa M khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Nguyễn Triệu P, yêu cầu bị đơn trực tiếp nuôi con chung. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị M là người khởi kiện, anh P là người bị kiện nên xác định tư cách đương sự chị M là nguyên đơn, anh P là bị đơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh P đã được tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai những vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ theo Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh P theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị M và chị P tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau vào ngày 08/11/2013 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh P được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị M xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh P và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn với anh P. Tại phiên tòa, chị M xác định, nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị M được ly hôn với anh P.

[3] Về con chung: Chị M và anh P có 2 người con chung là cháu Nguyễn Thiên P – sinh ngày 31/12/2013 và cháu Nguyễn Phúc H – sinh ngày 16/5/2015. Hiện hai cháu đang sống cùng với anh P, chị M yêu cầu giao hai cháu cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, hai cháu hiện còn nhỏ chưa đủ tuổi để ghi nhận nguyện vọng của các cháu theo quy định pháp luật, hiện các cháu đang sống chung với anh P, chị M xác định sau khi ly hôn chị sẽ đi làm ăn xa nhà nên không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu nên việc giao các cháu cho anh P nuôi dưỡng là để đảm bảo cuộc sống ổn định vốn có của các cháu lâu nay. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Phúc và cháu Hậu cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với sự phát triển của các cháu và đúng với quy định của pháp luật.

[4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Do anh P là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên chị M không trực tiếp nuôi con sẽ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Xét thấy, việc cấp dưỡng cho con là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng, theo quy định tại Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình và hướng dẫn tại khoản 2, mục III của Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng tối thiểu không dưới 1/2 mức lương cơ sở do nhà nước quy định tại thời điểm xét xử đối với 01 người con, mức lương cơ sở hiện nay là 1.390.000 đồng, do đó chị M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Phúc và cháu Hậu với số tiền 695.000 đồng/tháng đối với mỗi cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 24/4/2019.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị M xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Anh P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Họa M về việc yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Triệu P.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Họa M được ly hôn với anh Nguyễn Triệu P.

2. Về con chung: Giao hai cháu Nguyễn Thiên P– sinh ngày 31/12/2013 và cháu Nguyễn Phúc H – sinh ngày 16/5/2015 cho anh Nguyễn Triệu P trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Trương Thị Họa M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Buộc chị Trương Thị Họa M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thiên P – sinh ngày 31/12/2013 và cháu Nguyễn Phúc H – sinh ngày 16/5/2015 với số tiền 695.000 đồng/tháng đối với mỗi cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 24/4/2019.

4. Về án phí: Chị Trương Thị Họa M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Chị Trương Thị Họa M có nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002698 ngày 14 tháng 02 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần VănThời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu, Chị Trương Thị Họa M còn phải nộp tiếp 300.000 đồng.

Án xử công khai, chị Trương Thị Họa M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Triệu P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 24/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:93/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về