Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 20/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 93/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/06/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 20 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 273/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị B sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn G, xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đồng Xuân H sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn G, xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 3 năm 2019 cùng các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên và tại phiên tòa, chị Đặng Thị B (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đặng Thị B và anh Đồng Xuân H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56 ngày 25 tháng 10 năm 2008. Sau khi cưới vợ chồng sinh sống tại thôn G xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thiếu tin tưởng nhau nên thường xảy ra cãi nhau. Khi mâu thuẫn xảy ra, gia đình hai bên và bạn bè đã hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhưng không thành. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đồng Xuân H.

Về con chung: Chị Đặng Thị B và anh Đồng Xuân H có hai con chung tên Đồng Xuân Quốc B1 sinh ngày 18/7/2009 và Đồng Xuân Quốc V1 sinh ngày 24/8/2014. Hiện hai con đang khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang do vợ chồng cùng nuôi dưỡng. Điều kiện nuôi con của chị và anh Đồng Xuân H đều tốt, đảm bảo được cho con phát triển bình thường. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi con tên Đồng Xuân Quốc V1, đề nghị anh Đồng Xuân H nuôi con tên Đồng Xuân Quốc B1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị đề nghị để chị và anh Đồng Xuân H tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh Đồng Xuân H không có tài sản chung, chị không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.

Trong bản tự khai đề ngày 06 tháng 5 năm 2019 cùng các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên và tại phiên tòa, anh Đồng Xuân H (bị đơn) trình bày:

Anh Đồng Xuân H thừa nhận toàn bộ lời trình bày của chị Đặng Thị B là đúng. Nay chị Đặng Thị B đề nghị ly hôn, anh đồng ý ly hôn vì anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài. Khi ly hôn anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi hai con vì anh không tin tưởng chị Đặng Thị B sẽ nuôi con tốt bằng anh. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung anh có quan điểm như chị Đặng Thị B đã trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết vụ án thì đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về các tài liệu, chứng cứ và tình tiết của vụ án:

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Về quan hệ hôn nhân, con chung và lý do đề nghị Tòa án giải quyết các quan hệ đó phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà đương sự giao nộp, phù hợp với tài liệu do Tòa án thu thập được nên thuộc trường hợp không phải chứng minh; Quan hệ tài sản chung vợ chồng đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề phải chứng minh.

Các tình tiết mà các bên không thống nhất: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị B và anh Đồng Xuân H được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56 ngày 25 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban nhân dân xã H1, huyện T, thành phố Hải Phòng là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thiếu tin tưởng nhau nên thường xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn trở nên căng thẳng, trầm trọng dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Đặng Thị B xin ly hôn với anh Đồng Xuân H và anh Đồng Xuân H đồng ý ly hôn. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị B với anh Đồng Xuân H.

[3] Về con chung: Chị Đặng Thị B và anh Đồng Xuân H có hai con chung tên Đồng Xuân Quốc B1 sinh ngày 18/7/2009 và Đồng Xuân Quốc V1 sinh ngày 24/8/2014. Khi ly hôn chị Đặng Thị B có nguyện vọng nuôi con tên Đồng Xuân Quốc V1 và anh Đồng Xuân H có nguyện vọng nuôi cả hai con chung. Tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đương sự thể hiện chị Đặng Thị B, anh Đồng Xuân H có điều kiện, khả năng và thời gian để chăm sóc con chung tốt và như nhau, con chung là Đồng Xuân Quốc B1 có nguyện vọng ở với cha hay mẹ cũng được. Vì vậy áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung tên Đồng Xuân Quốc V1 cho chị Đặng Thị B và giao con chung tên Đồng Xuân Quốc B1 cho anh Đồng Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị Đặng Thị B và anh Đồng Xuân H tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Đặng Thị B và anh Đồng Xuân H không có yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Đặng Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị B và anh Đồng Xuân H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Đồng Xuân Quốc V1 sinh ngày 24/8/2014 cho chị Đặng Thị B trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên Đồng Xuân Quốc B1 sinh ngày 18/7/2009 cho anh Đồng Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc trực tiếp nuôi con chung được thực hiện cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2.2. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Thị B và anh Đồng Xuân H tự thỏa thuận giao nhận cho nhau.

3. Về tài sản chung: Chị Đặng Thị B và anh Đồng Xuân H không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Đặng Thị B đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tại Biên lai số 0000549 ngày 11 tháng 4 năm 2019; Chị Đặng Thị B đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị B, anh Đồng Xuân H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 20/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:93/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về