Bản án 925/2020/HS-PT ngày 03/12/2020 về tội bắt, giữ người trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 925/20 20/HS-PT NGÀY 03/12/2020 VỀ TỘI BẮT, GIỮ NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT a

Ngày 03 tháng 12 năm 20 20, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 707/2020/ T L P T - HS ngày 01/10/2020, do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Xuân Pp ... và các đồng phạm đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 236/2020/HS- ST ngày 23/7/2020 của Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

* Các bị cáo kháng cáo:

1. Đỗ Xuân Pp ...; sinh năm ..., tại Nam Định; nơi cư trú: ..., Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; con ông ... và bà ...; có vợ Nguyễn ... (sinh năm ...) và có 02 con (sinh năm ...); chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ từ ngày 21/3/2019 đến ngày 30/3/2019; tại ngoại và bị Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Vũ Quốc Tt ...; sinh năm ..., tại Nam Định; nơi cư trú: ..., Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; con ông ... và bà ... (đều đã chết); có vợ là ... (sinh năm ...) và có 01 con (sinh năm ...); chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ từ ngày 21/3/2019 đến ngày 30/3/2019; tại ngoại và bị Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Phan Văn Ll ...; sinh năm ..., tại Nam Định; nơi cư trú: ..., Nam Định:

nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; con ông ... và bà ...; chưa có vợ, con; chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ từ ngày 21/3/2019 đến ngày 30/3/2019; tại ngoại và bị Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

4. Phạm Văn Mm ...; sinh năm ..., tại Nam Định; nơi cư trú: ..., Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; con ông ... và bà ...; có vợ là ... (sinh năm ...) và chưa có con; chưa có tiền án, tiền sự; không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào; tại ngoại và bị Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

* Người bào chữa cho các bị cáo có ông Nguyễn Văn Đà; luật sư của Văn phòng Luật sư Kim Giang và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; 091 357 0906; vắng mặt.

* Người bị hại: Anh Phạm Văn T- Bh ...; sinh năm ...; địa chỉ: ..., Nam Định; không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong năm 2017, anh Phạm Quốc H-Lc ... vay của Đỗ Xuân Pp... là 70.000.000 đồng, anh Phạm Văn T- Bh ... vay của Pp ... là 90.000.000 đồng, đều chưa trả nợ và anh T- Bh ... tránh mặt Pp .... Biết anh H- Lc cùng anh T- Bh ... làm việc và ở tại Quán bi a (số 97 ..., Đống Đa, Hà Nội) nên ngày 18/3/2019, Pp ... rủ Vũ Quốc Tt ... (anh họ) cùng đi Hà Nội tìm anh H- Lc, anh T- Bh ... đòi tiền và Tt ... đồng ý. Khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, khi Pp ... đang điều khiển xe ô tô Kia Cerato (biển kiểm soát 18A- ...) thì Tt ... gọi điện thoại rủ bạn xã hội là Phan Văn Ll ... cùng đi đòi nợ cho Pp ... và hẹn đón tại ngã ba Pháp Vân- Giải Phóng; Ll ... đồng ý và rủ thêm người quen là Phạm Văn Mm ... đi cùng. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/3/2019, Pp ... và Tt ... đón Ll ..., Mm ... và cùng đi tìm anh T- Bh ....

Đến nơi thì Pp ... gọi cửa và anh Phạm Quốc H- Lc ... mở cửa; Pp ..., Tt ..., Ll ... và Mm ... vào phòng, nói chuyện và Pp ... đặt vấn đề đòi tiền, anh H- Lc xin khất nợ vài hôm nữa sẽ trả và Pp ... đồng ý việc khất nợ này. Pp ... hỏi anh H- Lc là T- Bh ... đâu thì anh H- Lc trả lời không biết; bực tức về việc anh H- Lc nói dối nên Pp ... và Tt ... dùng tay tát anh H- Lc vài cái rồi cả nhóm tỏa đi các phòng để tìm anh T- Bh ....

Mm ... phát hiện thấy anh T- Bh ... trong bếp nên thông báo và Pp ... mở cửa, bảo anh T- Bh ... đi ra ngoài. Khi anh T- Bh ... ra khỏi bếp thì Pp ..., Tt ... dùng tay, chân đấm, đá và đòi nợ ngay 90.000.000 đồng; Mm ... cầm ghế ném (nhưng không ném trúng) và dùng tay tát vào mặt anh T- Bh .... Do bị đánh nên anh T- Bh ... xin gọi điện về nhà nhờ trả tiền. Pp ... đồng ý, đưa điện thoại của mình để anh T- Bh ... gọi cho mẹ là bà .... nhờ trả tiền. Lúc này, anh T- Bh ... bật loa ngoài của điện thoại và nói: Con đang ở chỗ anh Pp ..., mẹ nói chuyện với anh ý xem trả nợ cho con thì bà ... nói: Hiện tại không có tiền; Tt ... nói vọng vào: Tiền nó nợ bọn cháu gia đình có định trả hay không. Bà ... xin khất nợ nên Pp ... bắt anh T- Bh ... phải cùng về Nam Định gặp gia đình để giải quyết. Anh T- Bh ... đề nghị sáng hôm sau sẽ về nhưng Pp ... không đồng ý, cả nhóm đưa anh T- Bh ... lên xe để về Nam Định. Tt ... điều khiển ô tô, Pp ... ngồi ghế phụ phía trước, anh T- Bh ... ngồi ở ghế sau giữa Ll ... và Mm ...; khi xe đi đến phố Xã Đàn thì Mm ... xuống xe.

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 19/3/2019 thì Pp ..., Tt ... và Ll ... đưa anh T- Bh ... về đến cửa hàng của Pp ... (tại ..., Nam Định). Anh T- Bh ... xin về nhà nhưng Pp ... không đồng ý rồi Pp ... ngủ ở phòng trong, Tt ... và Ll ... trải chiếu ngủ ở sàn nhà ngay tại vị trí cửa ra vào; anh T- Bh ... ngủ trên ghế dài ở cuối nhà. Trưa ngày 19/3/2019, anh T- Bh ... xin về nhà thì Pp ... bảo phải chờ Phạm Xuân Trường (là anh xã hội của Pp ...); khoảng 13 giờ cùng ngày thì Trường đến, Pp ... nói chuyện với anh T- Bh ... và thỏa thuận sẽ chuyển số tiền anh T- Bh ... nợ Pp ... sang nợ Trường; anh T- Bh ... đồng ý, viết giấy nợ Trường là 90.000.000 đồng tiền gốc, 60.000.000 đồng tiền lãi cộng dồn của cả 02 năm, tổng cộng là 150.000.000 đồng và hẹn 01 tháng sau sẽ trả; Trường cất giấy nợ rồi cùng Pp ... và Tt ... đưa anh T- Bh ... về nhà; anh T- Bh ... có thông báo với bố, mẹ và gia đình biết về việc nợ tiền nêu trên; gia đình xin khất nợ nên cả nhóm ra về.

Đối với anh Phạm Quốc H- Lc ... (nợ Pp ... 70.000.000 đồng): Khi Pp ... đòi nợ thì anh H- Lc xin khất nợ, Pp ... đồng ý và hai bên không có tranh chấp về việc này. Khi Pp ... hỏi về anh T- Bh ... thì anh H- Lc nói không biết nên Pp ... và Tt ... bực tức, dùng tay tát và đấm anh H- Lc vài cái nhưng không có thương tích và anh H- Lc không có yêu cầu gì về dân sự.

Đối với Phạm Xuân Trường (vắng mặt tại nơi cư trú): Kết quả điều tra chưa đủ căn cứ xác định Trường là đồng phạm trong vụ án nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Phạm Xuân Trường.

Đối với bị hại Phạm Văn T- Bh ...: Ngày 28/6/2020 (bút lục 609 và 610), anh T- Bh ... đã trực tiếp nhận bồi thường tổng cộng là 6.000.000 đồng (bao gồm: Pp ... là 2.500.000 đồng, Tt ... là 2.000.000 đồng, Ll ... là 1.500.000 đồng và Mm ... là 1.000.000 đồng) nên anh T- Bh ... không có yêu cầu gì về dân sự và có Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các đối tượng gây án.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 236/2020/HS- ST ngày 23/7/2020, Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Xuân Pp ..., Vũ Quốc Tt ... và Phan Văn Ll ... phạm các tội Cướp tài sản và Bắt, giữ người trái pháp luật; bị cáo Phạm Văn Mm ... phạm các tội Cướp tài sản và Bắt người trái pháp luật.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 55 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân Pp ... 09 năm tù về tội Cướp tài sản; 01 năm tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 10 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 21/3/2019 đến ngày 30/3/2019.

+ Xử phạt bị cáo Vũ Quốc Tt ... 08 năm tù về tội Cướp tài sản; 09 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 08 năm, 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 21/3/2019 đến ngày 30/3/2019.

+ Xử phạt bị cáo Phan Văn Ll ... 08 năm tù về tội Cướp tài sản; 09 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 08 năm, 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 21/3/2019 đến ngày 30/3/2019.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 51 và Điều 55 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Văn Mm ... 08 năm tù về tội Cướp tài sản; 09 tháng tù về tội Bắt người trái pháp luật; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 08 năm, 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ ngày 31/7/2020 đến ngày 03/8/2020, các bị cáo Đỗ Xuân Pp ..., Vũ Quốc Tt ..., Phan Văn Ll ... và Phạm Văn Mm ... đều có đơn kháng cáo với nội dung kêu oan, không phạm tội Cướp tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đỗ Xuân Pp ..., Vũ Quốc Tt ..., Phan Văn Ll ... và Phạm Văn Mm ... đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân và các đồng phạm, thay đổi nội dung kháng cáo, thừa nhận các hành vi phạm tội và tội danh theo quy kết của Bản án sơ thẩm; các bị cáo đều ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa một phần Bản án sơ thẩm:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, các điểm b, s và t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự:

xử phạt bị cáo Đỗ Xuân Pp ... từ 06 năm đến 07 năm tù về tội Cướp tài sản, từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; tổng hợp hình phạt chung từ 06 năm, 06 tháng đến 07 năm, 09 tháng tù.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt các bị cáo Vũ Quốc Tt ... và Phan Văn Ll ..., mỗi bị cáo từ 05 năm, 06 tháng đến 06 năm tù về tội Cướp tài sản, từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; tổng hợp hình phạt chung từ 06 năm đến 06 năm, 09 tháng tù.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn Mm ... từ 05 năm, 06 tháng đến 06 năm tù về tội Cướp tài sản, từ 03 tháng đến 06 tháng tù về tội Bắt người trái pháp luật; tổng hợp hình phạt chung từ 05 năm, 09 tháng đến 06 năm, 06 tháng tù.

- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo và kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Đỗ Xuân Pp ..., Vũ Quốc Tt ..., Phan Văn Ll ... và Phạm Văn Mm ... đều phù hợp các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho cả 04 bị cáo là luật sư Nguyễn Văn Đà vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa; các bị cáo đều đề nghị xét xử vắng mặt người bào chữa và các bị cáo sẽ tự thực hiện quyền bào chữa cho mình; vì vậy, Hội đồng quyết định tiếp tục tiến hành phiên tòa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận của các bị cáo Đỗ Xuân Pp ..., Vũ Quốc Tt ..., Phan Văn Ll ... và Phạm Văn Mm ... tại phiên tòa phúc thẩm đều phù hợp với nhau và lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: Do anh Phạm Văn T- Bh ... nợ Đỗ Xuân Pp ... 90.000.000 đồng nên rạng sáng ngày 19/3/2020, tại quán bi a trên phố .... (địa chỉ: Số 97... quận Đống Đa, thành phố Hà Nội), Đỗ Xuân Pp ... và các đồng phạm là Vũ Quốc Tt ..., Phan Văn Ll ... và Phạm Văn Mm ... đã đánh đập, hành hung và bắt anh Phạm Văn T- Bh ... phải trả nợ ngay cho Đỗ Xuân Pp ... ; khi anh T- Bh ...

không có tiền trả nợ ngay thì Pp ... và các đồng phạm cưỡng bức anh T- Bh ... lên xe ô tô (do Tt ... điều khiển) di chuyển ngay về Nam Định, Phạm Văn Mm ... xuống xe tại phố Xã Đàn (không theo về Nam Định); tại cửa hàng của Pp ... (địa chỉ: ..., tỉnh Nam Định), Pp ... và Tt ..., Ll ... tiếp tục giữ anh T- Bh ... đến 13 giờ 30 phút cùng ngày và anh T- Bh ... viết đã giấy xác nhận nợ (cả gốc và lãi) là 150.000.000 đồng thì Pp ... và các đồng phạm mới đưa anh T- Bh ... về nhà. Hành vi của Đỗ Xuân Pp ..., Vũ Quốc Tt ... và Phan Văn Ll ... đã phạm các tội "Cướp tài sản sản" "Bắt, giữ người trái pháp luật"; hành vi của Phạm Văn Mm ... phạm các tội "Cướp tài sản sản" "Bắt người trái pháp luật"; tội phạm và hình phạt đối với các bị cáo đều được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 168 và khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết các bị cáo theo các tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm sức khỏe và tài sản của người khác, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Bị cáo Đỗ Xuân Pp ... là đối tượng chủ mưu, khởi xướng, chỉ huy và tích cực thực hành các hành vi phạm tội nên bị cáo Pp ... có vai trò cao nhất, chịu trách nhiệm chính trong đồng phạm về cả 02 tội danh. Các bị cáo Tt ..., Ll ... và Mm ... đều giúp sức, tích cực thực hiện các hành vi phạm tội và có vai trò là người thực hành trong đồng phạm về cả 02 tội danh. Trong khi cùng các đồng phạm hành hung bị hại thì bị cáo Mm ... đã dùng ghế nhựa ném bị hại, tuy không trúng nhưng thể hiện tính nguy hiểm cao của hành vi nên bị cáo Mm ... có vai trò thấp hơn bị cáo Pp ..., cao hơn các bị cáo Tt ... và Ll ... trong đồng phạm về tội Cướp tài sản.

[5.1] Các bị cáo trong vụ án đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và phạm tội lần đầu, đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải", "bị hại có một phần lỗi- chây ì không trả nợ" "bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo" là các tình tiết theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và đã được Bản án sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo trong vụ án.

[5.2] Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử xem xét bổ sung: Ngày 28/6/2020 (trước khi Tòa án xét xử sơ thẩm- bút lục số 609), các bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại nên các bị cáo đều được áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Theo Công văn số 156/CV ngày 28/9/2020, Công an huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xác nhận về việc bị cáo Đỗ Xuân Pp ... đã cung cấp nhiều thông tin chính xác giúp Công an huyện Giao Thủy phát hiện và khởi tố đối với nhiều đối tượng phạm tội về ma túy trong khoảng thời gian từ tháng 04 đến tháng 06 năm 2020. Vì vậy, bị cáo Pp ... được áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm phát hiện tội phạm” theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, các bị cáo Pp ... và Tt ... đều giao nộp bổ sung các tài liệu, giấy xác nhận về việc gia đình các bị cáo là “Gia đình có công với Cách Mạng” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Pp ... và Tt ... theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5.3] Về tội danh Cướp tài sản, Bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, vai trò và nhân thân của các bị cáo trong đồng phạm; tuy nhiên, Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Pp ... 09 năm tù, xử phạt các bị cáo Tt ..., Ll ... và Mm ..., mỗi bị cáo 08 năm tù, đều về tội Cướp tài sản là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ: Các bị cáo đều phạm tội trong đồng phạm có tính chất giản đơn, đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có thể áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với các bị cáo Tt ..., Ll ... và Mm ... về tội Cướp tài sản cũng đủ sức cải tạo và răn đe. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị tại phiên tòa phúc thẩm, áp dụng các tình tiết mới, chấp nhận kháng cáo và giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo về tội danh Cướp tài sản; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

[5.4] Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đều được áp dụng bổ sung tình tiết mới về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng xét thấy Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Pp ...

12 tháng tù, xử phạt các bị cáo Tt ... và Ll ..., mỗi bị cáo 09 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật là có căn cứ và tương xứng với khoảng thời gian đã thực hiện tội phạm (từ rạng sáng đến 13 giờ 30 phút cùng ngày 19/3/2020) nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo Pp ..., Tt ... và Ll ... về tội danh Bắt, giữ người trái pháp luật.

[5.5] Sau khi cùng các đồng phạm cưỡng bức bị hại T- Bh ... lên ô tô thì bị cáo Mm ... đã xuống xe tại phố Xã Đàn (Đống Đa, Hà Nội) và không về Nam Định nên Bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo Mm ... phạm tội Bắt người trái pháp luật; Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Mm ... mức hình phạt 09 tháng tù (như các bị cáo Tt ... và Ll ...) là có phần nghiêm khắc và chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Mm ... về tội Bắt người trái pháp luật, đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí.

[8] Vì các lẽ trên:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 236/2020/HS- ST ngày 23/7/2020 của Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đối với các bị cáo Đỗ Xuân Pp ..., Vũ Quốc Tt ..., Phan Văn Ll ... và Phạm Văn Mm ...:

* Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, các điểm b, s và t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân Pp ... 07 (bảy) năm tù về tội Cướp tài sản, 01 (một) năm tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đỗ Xuân Pp ... phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 08 (tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 21/3/2019 đến ngày 30/3/2019).

* Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Vũ Quốc Tt ... 06 (sáu) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội Cướp tài sản, 09 (chín) tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vũ Quốc Tt ... phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 07 (bảy) năm, 03 (tháng) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 21/3/2019 đến ngày 30/3/2019).

- Xử phạt bị cáo Phan Văn Ll ... 06 (sáu) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội Cướp tài sản, 09 (chín) tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phan Văn Ll ... phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 07 (bảy) năm, 03 (tháng) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 21/3/2019 đến ngày 30/3/2019).

* Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Mm ... 06 (sáu) năm, 09 (chín) tháng tù về tội Cướp tài sản, 06 (sáu) tháng tù về tội Bắt người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phạm Văn Mm ... phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 07 (bảy) năm, 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Các bị cáo Đỗ Xuân Pp ..., Vũ Quốc Tt ..., Phan Văn Ll ... và Phạm Văn Mm ... đều không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 925/2020/HS-PT ngày 03/12/2020 về tội bắt, giữ người trái pháp luật

Số hiệu:925/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/12/2020
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về