Bản án 92/2020/HS-PT ngày 30/11/2020 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 92/2020/HS-PT NGÀY 30/11/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 882020/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo TMD do có kháng cáo của bị cáo TMD đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HS-ST ngày 30/09/2020 của Tòa án nhân dân huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo: TMD (ĐĐD); Sinh năm: 1973; Nơi sinh: Huyn T, tỉnh T; Nơi cư trú: Ấp A, xã A3, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B và bà Huỳnh Thị B; Vợ: Trương Thúy H; Có 02 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18-8-2020 (có mặt).

* Bị hại có liên quan đến kháng cáo: LPH, sinh năm: 1966; Cư trú tại: Ấp AB, xã A3, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NLQ; Người làm chứng NLC1, NLC2, NLC3.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 13 giờ 40 phút ngày 25-6-2020, TMD (ĐĐD) điều khiển xe mô tô BKS 83D1-xxx.xx đi ngang qua quán cà phê của ông Hà Thanh V và bà NLQ thì thấy ông LPH đang ngồi uống cà phê trong quán, nên TMD dừng xe và lùi xe lại. Lúc này, TMD ngồi trên xe cách ông LPH khoảng 04 - 05 mét, mặt quay ngược lại và dùng tay phải chỉ về hướng ông LPH và nói “ông làm thầy giáo mà để vợ con ông rủ rê vợ con người khác đánh bạc”, nói xong TMD chạy xe đi được khoảng 30 - 40 mét về hướng nhà ông LPH, thì TMD thấy vợ là Trương Thúy H từ trong nhà ông LPH đi ra nên TMD quay đầu xe lại chạy đến chỗ ông LPH đang ngồi và nói “ông thầy LPH sao ông để vợ ông rủ rê vợ con người ta đánh bài hoài” ông LPH trả lời “tao biết gì”, TMD nói “nhà ông mà sao ông không biết”. Ngay lập tức, TMD dùng tay gỡ mũ bảo hiểm đang đội trên đầu và cầm mũ bảo hiểm trên tay (tay phải) đánh vào đầu ông LPH thì ông LPH đưa tay phải lên đỡ nên trúng vào tay, lúc này anh NLC2 và anh NLC1 (anh NLC2 và anh NLC1 là giáo viên) đến can ngăn, nhưng TMD vẫn dùng mũ bảo hiểm ném trúng vào mặt phía bên trái ông LPH 01 cái làm mũ bảo hiểm rớt xuống đất, TMD tiếp tục lượm mũ bảo hiểm lên tiếp tục ném trúng vào vai trái ông LPH làm mũ bảo hiểm rơi xuống đất một lần nữa. Lúc này, ông LPH bỏ chạy ra ngoài lộ đal trước quán, nên TMD chụp ba cái ly (loại ly thủy tinh có quai cầm) đang để trên bàn ném về hướng ông LPH, nhưng không trúng. TMD tiếp tục rượt theo và lượm cục bê tông dưới lộ đal đánh trúng vào đầu ông LPH 01 cái làm ông LPH ngã xuống lộ, TMD tiếp tục cầm cục bê tông đánh thêm 03 - 04 cái nữa vào đầu ông LPH. Thấy vậy, những người xung quanh đến can ngăn và điện thoại báo Công an xã A3. Ông LPH được người nhà đưa đến Trung tâm y tế huyện CLD điều trị và được đưa lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng khoa điều trị. Sau đó, ông LPH được gia đình chuyển lên Bệnh Viện Chợ Rẫy tại Thành phố Hồ Chí Minh điều trị đến ngày 27/6/2020 thì xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 239/TgT-PY ngày 31 tháng 7 năm 2020 của Trung tâm pháp Y tỉnh Sóc Trăng kết luận: Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo Thông tư số: 20/2014/TT- BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ Y tế hiện tại là: 01% (một phần trăm). Tổn thương do vật tày gây nên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo TMD (ĐĐD) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo TMD (ĐĐD) 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của bị cáo và bị hại và người tham gia tố tụng khác.

* Ngày 12-10-2020 bị cáo TMD kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo;

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo TMD giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo TMD sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, giảm cho bị cáo 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn TMD lập và nộp cho Tòa án nhân dân huyện CLD vào ngày 12-10-2020 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo TMD như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo TMD khai nhận vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 25-6-2020 tại quán cà phê của ông Hà Thanh V và bà NLQ bị cáo dùng mũ bảo hiểm đánh vào đầu ông LPH thì ông LPH đưa tay phải lên đỡ nên trúng vào tay, và dùng mũ bảo hiểm ném trúng vào mặt phía bên trái ông LPH 01 cái làm mũ bảo hiểm rớt xuống đất, TMD tiếp tục lượm mũ bảo hiểm lên tiếp tục ném trúng vào vai trái ông LPH làm mũ bảo hiểm rơi xuống đất một lần nữa. Lúc này, ông LPH bỏ chạy ra ngoài lộ đal trước quán, nên TMD chụp ba cái ly (loại ly thủy tinh có quay cầm) đang để trên bàn ném về hướng ông LPH, nhưng không trúng. TMD tiếp tục rượt theo và lượm cục bê tông dưới lộ đal đánh trúng vào đầu ông LPH 01 cái làm ông LPH ngã xuống lộ, TMD tiếp tục cầm cục bê tông đánh thêm 03 - 04 cái nữa vào đầu ông LPH gây thương tích theo kết luận giám định là 01%. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng và phù hợp các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo TMD phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo TMD về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, khi lượng hình Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo TMD là, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đồng thời Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo TMD như bị cáo không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết này nên cấp phúc thẩm bổ sung tình tiết này cho bị cáo TMD. Do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận và giảm án cho bị cáo.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo TMD về việc xin được hưởng án treo: Xét điều kiện hưởng án treo của bị cáo TMD thì thấy, bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ. Theo quy định của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin được hưởng án treo [5] Từ những phân tích nêu trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo TMD Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo TMD (ĐĐD) 03(Ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”., thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án 3. Về án phí phúc thẩm:

- Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo TMD không chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


18
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về