Bản án 92/2019/HNGĐ-ST ngày 24/05/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 92/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/05/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 24 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2019 về việc "xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Chị Lê Diễm H, sinh năm: 1999. (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp TH, xã NH, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tẩu N, sinh năm: 1998. (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã U, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, chị Lê Diễm H trình bày quan điểm và xác định yêu cầu như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tẩu N xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau từ ngày 18/4/2018 âm lịch, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã U, thành phố C, tỉnh Cà Mau vào ngày 22/5/2018. Thời gian chung sống, chị và anh Nam phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh N không lo làm ăn mà thường xuyên nhậu; dù đã được gia đình hai bên hàn gắn, khuyên dạy nhưng anh N vẫn không khắc phục, sửa chữa; chị và anh N đã ly thân, không còn sống chung nhà và không còn liên lạc với nhau từ tháng 9/2018 cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Tẩu N.

- Về con chung: Chị và anh N không có con chung.

- Về tài sản chung: Chị và anh N không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Chị và anh N không có nợ chung, không ai nợ lại.

Đối với anh Nguyễn Tẩu N: Mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các Thông báo của Tòa án thông báo cho anh N đến Tòa án nhân dân thành phố C để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập anh N đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử nhưng anh N vẫn không đến Tòa án theo thông báo, giấy triêu tập của Tòa án, cũng không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Diễm H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng dân sự: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Diễm H và anh Nguyễn Tẩu N có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; anh N cư trú tại ấp S, xã U, thành phố C; anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân thành phố C thụ lý giải quyết và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Diễm H và anh Nguyễn Tẩu N kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của chị H và anh N được pháp luật công nhận và bảo vệ. Thời gian chung sống, chị H xác định chị và anh N phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh N không lo làm ăn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chị và anh N đã ly thân, không còn sống chung nhà và không còn liên lạc với nhau từ tháng 9/2018 cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N. Anh N đã được thông báo đến Tòa án để tham gia hòa giải, được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Điều đó chứng tỏ anh N không có ý thức hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị H. Xét mâu thuẫn của chị H và anh N có xảy ra nhưng không ai có giải pháp để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng. Tại phiên tòa, chị H xác định nếu Tòa án không chấp nhận cho chị ly hôn, chị cũng không chung sống với anh N vì chị không có tình cảm dành cho anh N. Xét thấy mâu thuẫn của chị H và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung của anh, chị không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H ly hôn anh N.

[3] Về con chung: Chị H xác định chị và anh N không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị H xác định chị không có yêu cầu gì về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị H xác định chị và anh N không có nợ chung, không ai nợ lại anh, chị nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1 - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Diễm H về việc xin ly hôn anh Nguyễn Tẩu N.

2 - Về con chung: Không có con chung nên không đặt ra xem xét.

3 - Về tài sản chung: Chị H xác định chị và anh N không có tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4 - Về nợ chung: Chị H xác định chị và anh Nam không có nợ chung, không có yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

5 - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Lê Diễm H phải chịu 300.000đ. Ngày 21 tháng 02 năm 2019, chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C (biên lai số 0002086) được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.

6 - Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh N vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 92/2019/HNGĐ-ST ngày 24/05/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:92/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về