Bản án 92/2019/HNGĐ-ST ngày 24/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 92/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/04/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 73/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2019/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Mai Thanh H – sinh năm 1982. Địa chỉ: Khóm 6A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Chị Nguyễn Hồng T – sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Tại phiên tòa, anh H vắng mặt, chị T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và đơn xin vắng mặt ngày 14/02/2019 anh Mai Thanh H trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị T sống chung năm năm 2010, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình Tây Bắc theo quy định pháp luật. Hiện tại vợ chồng đã ly thân nhau. Xét thấy cuộc sống chung không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị T.

Về con chung: Có hai người con chung là cháu Mai Nguyễn K sinh ngày 28/6/2011 và cháu Mai Nguyễn K sinh ngày 04/5/2007. Hiện hai cháu đang sống với chị T. Anh yêu cầu xem xét theo nguyện vọng của các con, và yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là chị Nguyễn Hồng T đúng theo quy định pháp luật nhưng chị T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn chị Nguyễn Hồng T có nơi cư trú tại ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Mai Thanh H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Nguyễn Hồng T, yêu cầu xem xét người trực tiếp nuôi con theo nguyện vọng các con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh H là người khởi kiện, chị T là người bị kiện nên xác định tư cách đương sự anh H là nguyên đơn, chị T là bị đơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị T đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai những vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt anh anh H, chị T theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/7/2010 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị T và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn với chị T. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của anh H được ly hôn với chị T.

[3] Về con chung: Anh H và chị T có 2 người con chung là cháu Mai Nguyễn K sinh ngày 28/6/2011 và cháu Mai Nguyễn K sinh ngày 04/5/2007. Hiện hai cháu đang sống cùng với chị T, anh H yêu cầu xem xét theo nguyện vọng của các con để xác định người trực tiếp nuôi con. Tòa án có ghi nhận ý kiến cháu Khang và cháu Kha, các cháu đều có nguyện vọng sống với chị T. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Khang và Kha cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các bên và đúng với quy định của pháp luật.

[4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Do chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên anh H không trực tiếp nuôi con sẽ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Xét thấy, việc cấp dưỡng cho con là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng, theo quy định tại Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình và hướng dẫn tại khoản 2, mục III của Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng tối thiểu không dưới 1/2 mức lương cơ sở do nhà nước quy định tại thời điểm xét xử đối với 01 người con, mức lương cơ sở hiện nay là 1.390.000 đồng, do đó anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Khang và cháu Kha với số tiền 695.000 đồng/tháng đối với mỗi cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 24/4/2019.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh H xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Hòai phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Chị T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Mai Thanh H về việc yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Hồng T.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Mai Thanh H được ly hôn với chị Nguyễn Hồng T.

2. Về con chung: Giao hai cháu Mai Nguyễn K sinh ngày 28/6/2011 và cháu Mai Nguyễn K sinh ngày 04/5/2007 cho chị Nguyễn Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Mai Thanh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Buộc anh Mai Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Mai Nguyễn K sinh ngày 28/6/2011 và cháu Mai Nguyễn Kha sinh ngày 04/5/2007 với số tiền 695.000 đồng/tháng đối với mỗi cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 24/4/2019.

4. Về án phí: Anh Mai Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Anh Mai Thanh H có nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002695 ngày 14 tháng 02 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu, anh Mai Thanh H còn phải nộp tiếp 300.000 đồng.

Án xử công khai, anh Mai Thanh H, chị Nguyễn Hồng T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 92/2019/HNGĐ-ST ngày 24/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:92/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về