Bản án 91/2018/HNGĐ-ST ngày 29/05/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 91/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/05/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Hoài T – sinh năm 1986 (xin vắng mặt)

Trú tại: ấp Hòn T, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc M – sinh năm 1985 (vắng mặt)

Trú tại: khóm 7, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15-3-2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Hoài T trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2007 chị T và anh Nguyễn Khắc M tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không hợp nhau, anh M thường đánh đập và chửi xúc phạm chị T. Anh chị đã ly thân hơn 03 năm nay mà không có hàn gắn tình cảm vợ chồng. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị T yêu cầu ly hôn với anh M.

Về nuôi con chung: Chị T và anh M có 01 người con chung là Nguyễn Minh T – sinh ngày 25/12/2007, đang sống với anh M. Chị T và anh M tự thỏa thuận về nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết mặt.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có.

Do điều kiện ở xa, đi lại khó khăn nên chị T yêu cầu Tòa án xét xử vắng

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các vănbản tố tụng cho anh Nguyễn Khắc M đúng theo quy định pháp luật nhưng anh M không có văn bản thể hiện ý kiến hoặc yêu cầu gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Khắc M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Chị T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh chị.

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Hoài T với anh Nguyễn Khắc M tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị T trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không hợp nhau, anh M thường đánh đập và chửi xúc phạm chị T. Anh chị đã ly thân hơn 03 năm nay mà không có liên hệ hàn gắn tình cảm vợ chồng. Về phía anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh M cố tình vắng mặt. Điều đó cho thấy anh M không có thiện chí hàn gắn tình cảm cùng chị T. Tại phiên tòa, chị T kiên quyết ly hôn với anh M vì có nhiều mâu thuẫn và đã ly thân nhiều năm. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh M không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Hoài T được ly hôn với anh Nguyễn Khắc M.

[3] Về nuôi con chung: Chị T và anh M có 01 người con chung là Nguyễn Minh T – sinh ngày 25/12/2007, đang sống với anh M. Chị T và anh M tự thỏa thuận về nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết

[4] Về chia tài sản: Chị T xác định không có.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 143, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Hoài T và anh Nguyễn Khắc M.

2. Về nuôi con chung: Chị T và anh M có 01 người con chung là Nguyễn Minh T – sinh ngày 25/12/2007, đang sống với anh M. Chị T và anh M tự thỏa thuận về nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về chia tài sản và nợ chung: Chị T xác định không có.

4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 13-3-2018, chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007922 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2018/HNGĐ-ST ngày 29/05/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:91/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về