Bản án 91/2018/HNGĐ-ST ngày 04/07/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 91/2018/HNGĐ-ST NGÀY 04/07/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 04 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 269/2018/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Hà L; địa chỉ: Thôn 2, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thành C; địa chỉ: Thôn 2, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 4 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Vũ Thị Hà L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Nguyễn Thành C kết hôn với nhau vào năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M , huyện T, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 31 đăng ký ngày 20 tháng 5 năm 2010). Sau khi cưới, vợ chồng sinh sống tại M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, chị đã nhiều lần phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp , bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau, anh C còn đánh đập chị. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh C .

- Về con chung: Chị L và anh C có hai con chung tên là Nguyễn Hà Ngọc K sinh ngày 03 tháng 10 năm 2010 và Nguyễn Minh K sinh ngày 31 tháng 10 năm 2012.Con chung hiện đang ở với bố, khi ly hôn chị L đề nghị được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Hà Ngọc K, anh C nuôi con chung Nguyễn Minh K . Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị L và anh C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết .

Bị đơn anh Nguyễn Thành C mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để trình bầy quan điểm về việc chị Vũ Thị Hà L có đơn xin ly hôn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định đúng quan hệ pháp luật và những người tham gia tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và đề nghị về con chung của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời khai của chị Vũ Thị Hà L về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn và có hai con chung như đã trình bày và phù hợp với bản sao giấy đăng ký kết hôn, bản sao giấy khai sinh của con chung mà chị Vũ Thị Hà L đã giao nộp cho Tòa án, phù hợp với tài liệu xác minh tại Ủy ban nhân dân xã M. Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau về mặt tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, khó có khả năng đoàn tụ. Chị L và anh C đều có khả năng nuôi con. Cháu Nguyễn Hà Ngọc K có nguyện vọng được ở cùng với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Thành C cư trú tại xã M, huyện T , thành phố Hải Phòng; anh C vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa; chị Vũ Thị Hà L do bận công việc nên có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên có thẩm quyền xét xử vụ án này. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh C đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 31 đăng ký ngày 20 tháng 5 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng). Căn cứ vào lời khai của các đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn anh C .

[3]. Về con chung: Chị L và anh C có hai con chung là Nguyễn Hà Ngọc K sinh ngày 03 tháng 10 năm 2010 và Nguyễn Minh K sinh ngày 31 tháng 10 năm 2012.Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Xét thấy, chị L đề nghị được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Hà Ngọc K , anh C trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Minh K và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Anh C , chị L đều có khả năng nuôi con. Vì vậy, giao con Nguyễn Hà Ngọc K cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Minh K cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L trình bày để hai bên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: Chị L trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết, mặt khác chưa có lời khai của anh Chung về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

[6]. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Hà Linh được ly hôn anh Nguyễn Thành Chung.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Vũ Thị Hà L trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Hà Ngọc K sinh ngày 03 tháng 10 năm 2010 cho đến khi con chung đủ mười tám tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao cho anh Nguyễn Thành C trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Minh K sinh ngày 31 tháng 10 năm 2012 cho đến khi con chung đủ mười tám tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị Hà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008923 ngày 24 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị Hà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2018/HNGĐ-ST ngày 04/07/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:91/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về