Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 18/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 90/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/06/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 280/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2019/QĐXX-ST ngày 22 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Trọng L sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn 8, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị N sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn 8, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 4 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Vũ Trọng L trình bày:

Về hôn nhân: Anh Vũ Trọng L và chị Vũ Thị N kết hôn với nhau do tự nguyện, được tổ chức lễ cưới theo phong tục, được Ủy ban nhân dân xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên cấp Giấy đăng kí kết hôn số 37, Quyển số 02/2013 ngày 12 tháng 5 năm 2014. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, năm 2018 thì sống ly thân cho đến nay; Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không tin tưởng nhau. Do tình cảm không còn, anh L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn chị Vũ Thị N.

Về con chung: Anh L và chị Vũ Thị N có một con Vũ Trọng K sinh năm 2014 do anh L đang nuôi. Khi ly hôn anh L nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi con; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để anh và chị N tự giao nhận cho nhau, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Anh L khai không có, không yêu cầu giải quyết.

Ông Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử cho ly hôn giữa anh Vũ Trọng L và chị Vũ Thị N; giao con Vũ Trọng K cho anh Vũ Trọng L nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; anh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Vũ Thị N đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Vũ Thị N.

[2] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh L và chị N là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, không quan tâm chăm sóc nhau. Vậy, xác định yêu cầu xin ly hôn của anh L đã thỏa mãn những căn cứ cho ly hôn quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình, cần giải quyết cho ly hôn giữa anh Vũ Trọng L và chị Vũ Thị N.

[3] Về con chung: Các bên có con chung như anh L trình bày là đúng và hiện nay đang do anh L nuôi. Nguyện vọng được tiếp tục nuôi con của anh L bảo đảm được L ích toàn diện của con; vậy nên giao con Vũ Trọng K cho anh L trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại các điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh L không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5] Về tài sản chung: Anh Vũ Trọng L khai không có, không yêu cầu giải quyết. Do chưa có lời khai của chị Vũ Thị N nên không xét giải quyết.

[6] Về án phí: Anh Vũ Trọng L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 92, 147 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Vũ Trọng L và chị Vũ Thị N.

Về nuôi con chung: Giao con Vũ Trọng K sinh ngày 08 tháng 12 năm 2014 cho anh Vũ Trọng L trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Vũ Trọng L không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về tài sản chung: Anh Vũ Trọng L khai không có, không yêu cầu giải quyết. Do chưa có lời khai của chị Vũ Thị N nên không xét giải quyết.

Về án phí: Anh Vũ Trọng L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng biên lai số 0000552 ngày 16 tháng 4 năm 2019. Anh Vũ Trọng L đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 18/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:90/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về