Bản án 90/2018/HS-ST ngày 08/06/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 90/2018/HS-ST NGÀY 08/06/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 08 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2017/TLST-HS ngày 08/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2018/QĐXXST-HS ngày 16/5/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2018/ HSST-QĐ ngày 29 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu H, sinh năm 1981 tại tỉnh Q; nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Q; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Ư, sinh năm 1953 và bà Lê Thị S, sinh năm 1956; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/10/2016 đến ngày 17/10/2016 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị bắt tạm giam từ ngày 21/02/2018 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Trần Hữu K, sinh năm 1980; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh H; tạm trú: s6/2/9C tổ 9, khu phố Đ, phường B, thị xã T, tỉnh B (vắng mặt).

+ Nguyễn Quốc H, sinh năm 1992; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh B; tạm trú: khu phố 1, phường B, quận T, Thành phố H (vắng mặt).

+ Đầu Văn H, sinh năm 1993; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh V; tạm trú: 316/8 khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh B (vắng mặt).

+ Bùi Văn N, sinh năm 1988; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh H; tạm trú: 9A/1/4A khu phố Đồng An 2, phường Bì, thị xã T, tỉnh B (vắng mặt).

+ Bùi Văn T, sinh năm 1987; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 1218/5 đường Kha Vạn Cân, khu phố 2, phường L, quận T, Thành phố H (vắng mặt).

+ Trần Đình Q, sinh năm 1991; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Xóm 1, xã T, huyện T, tỉnh H; tạm trú: 23/1/9, tổ 9, khu phố Đồng An 2, phường B, thị xã T, tỉnh B (vắng mặt).

+ Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1986; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: G, thị trấn T, huyện T, tỉnh T; tạm trú: Tổ 13A, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B.

+ Đặng Đình T, sinh năm 1973; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Xóm C, xã Ngọc H, huyện C, Thành phố H; tạm trú: 5A/1/9 khu phố Đồng An 2, phường B, thị xã T, tỉnh B (vắng mặt).

+ Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Xóm Cả, xã N, huyện C, Thành phố H; tạm trú: 5A/1/9 khu phố Đồng An 2, phường B, thị xã T, tỉnh T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 08/10/2016, Trần Hữu K mang theo một bộ bài tây 52 lá rồi cùng Nguyễn Hữu H, Nguyễn Quốc H và Đầu Văn H đi đến Trường mẫu giáo Hoa Ngọc L tại khu phố Đ, phường B, thị xã Thuận An do Nguyễn Thị L quản lý để đánh bạc trong một căn phòng ở trên lầu 2. Các bị cáo sử dụng bộ bài tây 52 lá để chơi bài cào tố 03 lá thắng thua bằng tiền. Mỗi ván, mỗi người chơi phải đặt tiền tẩy là 50.000 đồng và được tố thêm với nhau hai vòng nữa. Vòng thứ nhất, mỗi người có thể tố với nhau từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Vòng thứ hai, mỗi người có thể tố từ 100.000 đồng đến 500.000đồng. Sau đó, đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày thì Đặng Đình T là chồng của Nguyễn Thị L đi làm về cũng vào tham gia đánh bạc khoảng 30 phút thì T nghỉ để đi làm. Sau đó, lần lượt có thêm Bùi Văn N, Bùi Văn T, Nguyễn Ngọc A và Trần Đình Q đến cùng tham gia. Bùi Văn T vào chơi khoảng 30 phút thì có việc riêng ra ngoài. Khi T quay lại ngồi vào sòng bạc lấy bóp tiền ra để trước mặt tiếp tục chơi cùng các bị cáo thì bị Công an phường B phối hợp Công an thị xã Thuận An bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 23.500.000 đồng, một bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và một tấm vải màu xanh sử dụng để lót bài; đồng thời thu giữ trong người Trần Hữu K số tiền 3.000.000 đồng, Đầu Văn H số tiền 2.000.000 đồng, Nguyễn Quốc H số tiền 8.000.000 đồng.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận số tiền để đánh bạc cụ thể như sau: Bị cáo K mang theo số tiền 4.000.000 đồng, sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; bị cáo H mang theo số tiền 11.000.000 đồng, sử dụng số tiền 3.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, số tiền 8.000.000 đồng không sử dụng đánh bạc; bị cáo N mang theo số tiền 3.500.000 đồng, sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; bị cáo H mang theo số tiền 3.000.000 đồng, sử dụng hết số tiền này cho mục đích đánh bạc; bị cáo T mang theo số tiền 1.000.000 đồng, sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; bị cáo Q đem theo số tiền 2.000.000 đồng, sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; bị cáo A đem theo số tiền 900.000 đồng, sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; bị cáo T mang theo số tiền 1.200.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo H mang theo số tiền 750.000 đồng để đánh bạc, chơi thắng được 100.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc. Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo L tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 500.000 đồng là số tiền xâu thu được.

Quá trình điều tra sau khi được thay đổi biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú thì Nguyễn Hữu H đã bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã ra Quyết định truy nã đối với H.

Ngày 23/6/2017 Tòa án nhân dân thị xã Thuận An đã xét xử các bị cáo Trần Hữu K, Nguyễn Quốc H, Đầu Văn H, Bùi Văn N, Nguyễn Ngọc A, Trần Đình Q, Bùi Văn T, Đặng Đình T về tội Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; xét xử bị cáo Nguyễn Thị L về tội Gá bạc theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 và đã xử lý vật chứng trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/02/2018 Nguyễn Hữu H bị bắt giữ, ngày 23/02/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Thuận An ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và Quyết định phục hồi điều tra bị can đối với Nguyễn Hữu H.

Bản Cáo trạng số 88/CT-VKS-TA ngày 07/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Hà về tội Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng xử phạt bị cáo đối với tội danh, điều khoản nêu trên với mức hình phạt từ 03 tháng 27 ngày đến 06 tháng tù, đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 6.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu H khai nhận: Từ khoảng 10 giờ đến khoảng 16 giờ ngày 08/10/2016 tại Trường mẫu giáo Hoa Ngọc Lan thuộc khu phố Đ, phường B, thị xã T, tỉnh B bị cáo H cùng với K, H, H, N, Th, Q, A, T chơi đánh bạc dưới hình thức chơi bài cáo tố ba lá ăn thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc là 32.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ, riêng bị cáo Luyện sử dụng nơi ở của mình cho các bị cáo khác đánh bạc để thu tiền xâu với số tiền 500.000 đồng. Bị cáo H thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Bị cáo là người có sức khỏe, trong độ tuổi lao động, lẽ ra bị cáo phải sống chân chính, có ích cho gia đình và xã hội, nhưng vì động cơ tư lợi và xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả mà lao vào con đường phạm tội. Bị cáo ý thức được hành vi của mình là phạm tội, gây hậu quả xấu cho gia đình và xã hội bởi tệ nạn cờ bạc làm ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh của nhân dân, gây mất trật tự tại địa phương, làm suy đồi đạo đức và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội cho thấy bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Về vai trò: Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn và có vai trò thứ yếu trong vụ án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có trình độ học vấn thấp nên có sự hạn chế về mặt nhận thức pháp luật, nhất thời phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điểm h, p khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Đối với Trần Hữu K, Nguyễn Quốc H, Đầu Văn H, Bùi Văn N, Nguyễn Ngọc A, Trần Đình Q, Bùi Văn T, Đặng Đình T và Nguyễn Thị L đã bị Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh B xét xử theo bản án số 119/2017/HSST ngày 23/6/2017.

[7] Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại bản án số 119/2017/HSST ngày 23/6/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương nên không đề cập xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 03 (ba) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2018, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/10/2017 đến 17/10/2017 (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù).

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Hữu H nếu bị cáo H không bị tạm giam về một tội phạm khác. 

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu H số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


88
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về