Bản án 89/2018/HSST ngày 04/04/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 89/2018/HSST NGÀY 04/04/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2018/QĐ- HSST ngày 23-3-2018 đối với bị cáo: Nguyễn Trung K - sinh năm 1977 tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số 181 đường P, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Đỗ Thị S; Có 03 con; Tiền án: Ngày 19-11-2010 Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phúc thẩm phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tiền sự: không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30-12-2017 (có mặt).

Người làm chứng: anh Nguyễn Thanh T, anh Đặng Công M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 29-12-2017, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực ngã ba đường Trần Đăng Ninh – Lê Hồng Sơn, thành phố Nam Định phát hiện Nguyễn Trung K đi xe máy biển kiểm soát 18-261 FH một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra thì K tự giác lấy từ trong mũ lưỡi trai đang đội 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thề màu trắng giao nộp Tổ công tác (K khai là ma túy đá vừa mua để sử dụng). Tổ công tác đã mời người làm chứng, thu giữ, niêm phong vật chứng (ký hiệu A) và đưa K về trụ sở Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của Kiên 1 mũ lưỡi trai màu đen, 02 điện thoại di động Nokia, 01 xe máy biển kiểm soát 18-261 FH.

Bản kết luận giám định số 1093/GĐKTHS ngày 30-12-2017 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Trung K gửi giám định là chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine, khối lượng 4,512gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trung K đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và nguồn gốc gói ma túy bị thu giữ như sau: Khoảng 23 giờ ngày 29-12-2017 K đi xe máy một mình từ nhà đến khu vực xã Mỹ Xá, thành phố Nam Định mua của 01 người đàn ông tên Hòa (không rõ lai lịch) 1.200.000 đồng tiền ma túy tổng hợp. Sau đó K cất gói ma túy vào vành mũ lưỡi trai đang đội, đi xe máy về đề sử dụng. Trên đường về đến khu vực ngã ba Trần Đăng Ninh– Lê Hồng Sơn, thành phố Nam Định thì bị phát hiện bắt giữ.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho K, tài liệu Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ kết luận, Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Chiếc xe máy biển kiểm soát 18-261 FH đã thu giữ của K, xét không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị T (chị gái bị cáo).

Bản cáo trạng số 102/QĐ-KSĐT ngày 13-3-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trung K khai: Ngày 29-12-2017, bị cáo đi mua 01 gói ma túy tổng hợp cất giấu trong mũ lưỡi trai mục đích để sử dụng thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ; thu giữ và niêm phong gói ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội: khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo từ 42 tháng đến 45 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung;

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 1093/GĐKTH ngày 30-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 29-12-2017, tại khu vực ngã ba đường Trần Đăng Ninh – Lê Hồng Sơn, thành phố Nam Định, Nguyễn Trung K đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,512gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Bị cáo bị truy tố về hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên căn cứ theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là những tình tiết có lợi cho bị cáo để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm kiếm lời bất chính nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. 01 mũ lưỡi trai, 02 điện thoại di động là tài sản của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Án phí: Bị cáo Nguyễn Trung K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ  vào khoản 1 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố Nguyễn Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Trung K 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30-12-2017.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 1093/GĐKTHS. Trả lại cho bị cáo 01 mũ lưỡi trai, 02 điện thoại di động Nokia nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12-3-2018)

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Trung K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Trung K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự./.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về