Bản án 89/2018/HNGĐ-ST ngày 05/10/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 89/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/10/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã TU tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý 330/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2018 về việc: Ly hôn, tranh chấp vềnuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày31/8/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Phú T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn K, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ tạm trú: Tổ 1, khu phố Đ, phường A, thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn K, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ tạm trú: Tổ 1, khu phố Đ, phường A, thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Phú T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Phú T và bà Phạm Thị H tìm hiểu nhau 04 năm thì tự nguyện tiến tới hôn nhân và cha mẹ hai bên đồng ý. Ông bà tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, cấp ngày 13/02/2012.

Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, ý kiến trong các vấn đề trong gia đình. Vì muốn có cuộc sống gia đình hạnh phúc, các con còn nhỏ cần được sự chăm sóc của cả bố và mẹ nên ông T đã nhiều lần cố gắng khuyên can nhưng bà H không thay đổi. Vì vậy, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2016 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà Phạm Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm B, sinh ngày 18/4/2014 và Phạm Thị N, sinh ngày 18/4/2016. Hiện hai con đang sống chung với ông T nên khi ly hôn ông Phạm Phú T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà Phạm Thị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu chứng cứ sau:

+ Trích lục kết hôn;

+ Trích lục khai sinh của Phạm B và Phạm Thị N;

+ Bản sao giấy chứng minh nhân dân của ông Phạm Phú T;

+ Bản sao sổ hộ khẩu gia đình mang tên chủ hộ Phạm Phú Đ;

+ Bản photo sổ đăng ký khách tạm trú;

+ Bản cam kết của ông Phạm Phú T.

Bị đơn bà Phạm Thị H được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Theo biên bản xác minh ngày 31/7/2018 tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã TU, tỉnh Bình Dương thì bà Phạm Thị H có sinh sống và đăng ký tạm trú tại địa chỉ: Tổ 1, khu phố Đ, phường A, thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Về mâu thuẫn của vợ chồng cũng như yêu cầu nuôi con chung thì đại diện chính quyền địa phương không nhận được tin báo hay đơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn của đương sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU phát biểu tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác Đ quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã TU.

Về nội dung: Ông Phạm Phú T và bà Phạm Thị H tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, cấp ngày 13/02/2012. Nguyên nhân ông T yêu cầu ly hôn là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm và lối sống đến đến hay cãi vã nhau. Ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm B, sinh ngày 18/4/2014 và Phạm Thị N, sinh ngày 18/4/2016, không yêu cầu bà Phạm Thị H cấp dưỡng là phù hợp quy định pháp luật; về tài sản chung và nợ chung ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát.

 [1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Phạm Phú T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Phạm Thị H và yêu cầu được quyền nuôi con sau khi ly hôn nên đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bà Phạm Thị H đăng ký tạm trú tại địa chỉ: Tổ 1,khu phố Đ, phường A, thị xã TU, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã TU theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [2]. Về tố tụng: Bà Phạm Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 10/8/2018 và 30/8/2018 nhưng bà H vắng mặt không lý do. Tòa án triệu tập hợp lệ bà Phạm Thị H tham gia phiên tòa ngày 18/9/2018 nhưng bà H vắng mặt không có lý do nên Tòa án quyết định hoãn phiên tòa. Tòa án triệu tập bà H tham gia phiên tòa vào ngày 05/10/2018 nhưng bà H vắng mặt không có lý do là bà H đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình tại Tòa án. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt bà H theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [3]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Phú T và bà Phạm Thị H là những người đủ điều kiện kết hôn; chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu để tiến tới hôn nhân; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, cấp ngày 13/02/2012, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Do tình cảm vợ chồng không còn, ông bà không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Bà Phạm Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, điều này cho thấy bà H hoàn toàn không có thiện chí để Tòa án hòa giải vợ chồng đoàn tụ cùng nhau xây dựng gia đình. Xét, mâu thuẫn giữa ông T và bà H đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, ông Phạm Phú T yêu cầu ly hôn với bà Phạm Thị H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

 [4]. Về con chung: Ông T và bà H có 02 con chung tên Phạm B, sinh ngày 18/4/2014 và Phạm Thị N, sinh ngày 18/4/2016. Ông T yêu cầu được quyền nuôi conchung vì hiện nay các con đang do ông T nuôi dưỡng. Yêu cầu của ông T là phù hợp quy định tại Khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con” nên Tòa án chấp nhận.

 [5]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T tự nguyện không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án ghi nhận.

 [6]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

 [7]. Xét, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ  phù hợpquy định pháp luật.

 [8]. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Phú T về việc “Ly hôn và tranhchấp về nuôi con” với bà Phạm Thị H như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Phú T được ly hôn với bà Phạm Thị H.

- Về con chung: Giao con chung tên Phạm B, sinh ngày 18/4/2014 và Phạm Thị N, sinh ngày 18/4/2016 cho ông Phạm Phú T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Phạm Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phạm Phú T và bà Phạm Thị H đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Bà H được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp bà H lạm dụng quyền đi lại thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà H. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Phú T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0014201, ngày 17/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TU.

3. Về quyền kháng cáo: Ông Phạm Phú T có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Phạm Thị H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

84
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 89/2018/HNGĐ-ST ngày 05/10/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:89/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về