Bản án 88/2021/HSST ngày 19/07/2021 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 88/2021/HSST NGÀY 19/07/2021 VỀ TỘI CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 88/2021/HSST ngày 22 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2021/QĐXX – ST ngày 05/7/2021 đối với bị cáo:

Bùi Xuân T, sinh ngày 07/02/1989 tại Thái Bình Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã X, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do Con ông Bùi Xuân S và bà Nguyễn Thị N, có vợ là Nguyễn Thị M, có hai con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không Nhân thân:

- Bản án số 785/2007/HSPT ngày 30/8/2007 của Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 9 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong án phí sơ thẩm ngày 09/8/2007, án phí phúc thẩm ngày 16/11/2007, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/7/2008.

- Bản án số 48/2010/HSST ngày 04/11/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội: “Che giấu tội phạm”, chấp hành xong án phí ngày 06/01/2011, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2011.

- Bản án số 47/2011/HSPT ngày 29/7/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong án phí ngày 18/5/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/11/2014.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 283 ngày 17/9/2010 của Công an tỉnh Thái Bình cảnh cảo về hành vi: “Cố ý gây thương tích”.

- Quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc số 14/QĐ – TA ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, thời hạn 01 năm 06 tháng tính từ ngày 13/01/2020. Ngày 04/3/2021 Giám đốc cơ sở cai nghiện ma túy công lập có quyết định tạm thời đưa học viên ra khỏi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị tạm giam từ ngày 04/3/2021 đến nay.

Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Công ty cổ phần xây lắp 5 Thái Bình.

Địa chỉ: Số 400, đường Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Văn H, sinh năm 1962 - Giám đốc. Nơi cư trú: Tổ 04, khu đô thị 3, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1983 – Nhân viên công ty. Nơi cư trú: Tổ 02, phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình.Vắng mặt.

* Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1937. Nơi cư trú: Thôn T Cựu, xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 13 tháng 01 năm 2021, Bùi Xuân T đi bộ trên đường liên thôn T, xã X, thành phố Thái Bình, đến đầu ngõ nhà bà Phùng Thị T, T thấy xe ô tô Toyota Camry LE màu đen biển số 30U -6888 do ông Phùng Văn H là người điểu khiển đang đỗ ở đầu ngõ, T nảy sinh ý định đập phá xe ô tô của ông H do trước đó, vào khoảng tháng 8 năm 2020, ông H có xây dựng nhà và xây tường bao cho bố mẹ đẻ tại thôn T, xã X, thành phố Thái Bình, T cho rằng ông H xây lấn sang phần đất ruộng của gia đình T. T về nhà lấy 01 con dao, loại dao bấm bằng kim loại tối màu, phần lưỡi dao dài 9cm, đầu mũi dao nhọn, cán dao dài 12cm bỏ vào túi quần bên phài và cầm theo 01 cặp côn nhị khúc làm bằng gỗ có đường kính khoảng 0,5 cm, hai đầu côn được bọc bằng kim loại sáng màu và được nối lại với nhau bằng một đoạn dây xích bằng kim loại sáng màu có tổng chiều dài 70cm. Sau đó T đi bộ đến nơi ông H đỗ xe ô tô ngồi chờ gặp ông H để nói chuyện việc xây lấn đất. T chờ khoảng 15 phút không gặp được ông H, thấy bà T từ trong nhà đi ra T nói: “Ông H xây tường bao lấn sang đất ruộng nhà cháu nhưng không trả tiền cho cháu, nói xong T dùng tay trái cầm côn vụt một nhát vào gương chiếu hậu bên trái xe ô tô của ông H làm vỡ và gẫy gương xe, thấy vậy bà T nói với T: “Có việc gì từ từ để tôi vào gọi anh H ra”. Sau đó bà T đi vào nhà gặp ông H, trong lúc đó T tiếp tục dùng tay phải lấy dao bấm trong túi quần ra đâm một cái vào lốp xe phía sau bên phải làm thủng, rách lốp xe dài 3,1cm. Sau đó T tiếp tục đi lại giật tấm biển số xe 30U – 6888 gắn ở đầu xe phía trước rơi ra và cầm biển số xe về nhà với mục đích ép ông H phải sang nói chuyện với T. Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình đã triệu tập Bùi Xuân T để làm rõ hành vi trên, tại Cơ quan Điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, bị cáo T có biểu hiện của người sử dụng chất ma túy, Cơ quan điều tra đã kiểm tra và xác định cùng ngày xảy ra sự việc T có sử dụng ma túy nên đã lập hồ sơ đề nghị cai nghiện bắt buộc đối với T.

Ngày 12/3/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Bùi Xuân T. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tâm thần số 153/KLGĐ ngày 26/5/2021 Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị can Bùi Xuân T có biểu hiện hội chứng nghiện nhiều loại ma túy. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F 19.2.

Tại thời điểm giám định bị can Bùi Xuân T có hiểu hiện đang cai nhưng trong môi trường được bảo vệ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F19.21.

Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.” Bản Kết luận định giá tài sản số 02/KLGĐ – HĐGĐTS ngày 26/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Bình kết luận: 01 gương chiếu hậu xe Camry đời 2009 trị giá 3.975.000; 01 lốp xe phía sau bên phải xe Camry đời 2009 trị giá 2.480.000. Tổng trị giá tài sản là 6.455.000 đồng.

Bản cáo trạng số 92/CT – VKSTPTB ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Bùi Xuân T về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như mô tả ở trên. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố pđối với bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” .

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự .

Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/3/2021, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bấm; 01 côn nhị khúc; 01 lốp ô tô; 01 gương chiếu hậu bên trái xe ô tô.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 6.950.000 đồng, gồm 6.455.000 đồng tiền tài sản bị thiệt hại và 495.000 đồng tiền công sửa chữa, bị hại đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố và không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để quyết định hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra và truy tố cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của đúng như Cáo trạng đã mô tả. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người đại diện bị hại và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì nghĩ ông H xây tường bao lấn sang đất ruộng nhà bị cáo nên vào 08 giờ 30 phút ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại thôn T Cựu, xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình, Bùi Xuân T đã dùng côn nhị khúc đập vào gương chiếu hậu bên trái và dùng dao bấm đâm vào lốp xe bên phải phía sau xe ô tô Camry LE biển số 30U – 6888 của Công ty cổ phần xây lắp 5 do ông Phùng Văn H điều khiển làm xe ô tô bị hư hỏng gẫy vỡ gương và rách thủng lốp, gây thiệt hại 6.455.000 đồng.

Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo có sử dụng ma túy, bản thân bị cáo tuy có thời gian điều trị tại bệnh viện tâm thần do sử dụng ma túy, nhưng trước, trong và khi thực hiện hành vi bị cáo vẫn đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo biết hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vì muốn giải quyết mâu thuẫn cá nhân với ông H nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi làm hư hỏng tài sản của người khác do ông H là người quản lý gây thiệt hại 6.455.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Điều 178. Tội cố ý làm hư hỏng tài sản 1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

[3] Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Bùi Xuân T về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã tác động gia đình thay bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, và thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo T đã ba lần bị kết án, một lần bị xử phạt hành chính, mặc dù không còn bị coi là có tiền án, tiền sự nhưng cũng thể hiện khả năng giáo dục với bị cáo không cao, nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo T, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Vì bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có nghề hay chức vụ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại và tiền công sửa chữa số tiền là 6.950.000 đồng, việc bồi thường đã thực hiện xong, người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Phùng Văn H và người đại diện theo ủy quyền của ông H là chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác do vậy Tòa án ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với công cụ phạm tội là 01 dao, loại dao bấm bằng kim loại tối màu và 01 côn nhị khúc bằng gỗ mà bị cáo dùng làm hư hỏng tài sản cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 gương chiếu hậu bên trái, màu đen của xe ô tô Toyota Camry đã bị vỡ, 01 lốp xe loại lốp 216/65/R16 MICHEILNE màu đen trên má lốp có vết rách dài 3,1cm là tài sản của bị hại nhưng đã hư hỏng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân T, phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” .

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự .

Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/3/2021.

3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Bùi Xuân T cho bị hại, cụ thể bị cáo Bùi Xuân T bồi thường cho bị hại số tiền 6.950.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác, việc bồi thường đã thực hiện xong.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bấm dài 09cm, đầu mũi dao nhọn, cán dài 12cm; 01 côn nhị khúc hai tay cầm bằng gỗ, được nối với nhau bằng đoạn kim loại sáng màu; 01 lốp xe ô tô; 01 gương chiếu hậu.

(Mô tả chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/6/2021 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành dân sự thành phố Thái Bình).

5. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 26/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Xuân T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo Bùi Xuân T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/7/2021). Công ty cổ phần xây lắp 5, người đại diện là ông Phùng Văn H, người đại diện theo ủy quyền là chị Nguyễn Thị Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.


31
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 88/2021/HSST ngày 19/07/2021 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

Số hiệu:88/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/07/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về