Bản án 88/2020/HNGĐ-ST ngày 28/05/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 88/2020/HNGĐ-ST NGÀY 28/05/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 284/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Đặng Khắc N, sinh năm 1960; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 11 năm 2019, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Đặng Khắc N chung sống với nhau từ năm 1986, trên cơ sở tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc. Nguyên nhân do ông N gia trưởng, không tôn trọng bà H, thường xuyên chửi bới, đánh đập bà H. Mâu thuẫn trầm trọng nhất kể từ ngày 22 tháng 9 năm 2019, ông N đã đánh bà H phải nhập viện điều trị. Nay bà H không còn tình cảm với ông N nữa nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Đặng Khắc N có 02 con chung là Đặng Thị Thúy H, sinh năm 1987 và Đặng Quốc V, sinh năm 1989. Hai con đã trưởng thành nên bà H không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai, ông Đặng Khắc N trình bày: Ông N và bà Nguyễn Thị H biết nhau và chung sống với nhau từ năm 1986. Do là bà H đã có quan hệ không bình thường với nhiều người nên ông N không đăng ký kết hôn với bà H, không xem bà H là vợ. Ngày 21 tháng 3 năm 1987, sau khi bà H sinh con đầu, ông N mới xác nhận bà H là vợ nhưng vẫn không đăng ký kết hôn. Ông N và bà H chung sống với nhau không hạnh phúc, bà H không chịu cải tà quy chính. Nay ông N cũng không còn tình cảm với bà H nữa nhưng ông N không đồng ý ly hôn mà đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận ông N và bà H là vợ chồng.

Về con chung: Ông Đặng Khắc N thống nhất, ông N và bà Nguyễn Thị H có 02 con chung đúng như bà H trình bày. Nay các con đều đã trưởng thành nên ông N cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đặng Khắc N cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã xác minh về nguyên nhân xẩy ra mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Đặng Khắc N. Kết quả phản ánh: Trong quá trình sinh sống tại địa phương, ông N thường xuyên đánh đập bà H, có những lần ông N đánh bà H phải đi bệnh viện cấp cứu.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị H ly hôn ông Đặng Khắc N. Về con chung: đã trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H yêu cầu Toà án giải quyết về việc ly hôn; bị đơn ông Đặng Khắc N cư trú tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bị đơn ông Đặng Khắc N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N vắng mặt không có lý do. Bà Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông N. Ông N cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất để tham gia phiên tòa nhưng ông N vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N.

[2] Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H, ông Đặng Khắc N đều thừa nhận bà H và ông N chung sống với nhau từ năm 1986 nhưng không đăng ký kết hôn, quá trình chung sống không hạnh phúc. Nay cả hai đều xác định không còn tình cảm với nhau nữa nên bà H yêu cầu ly hôn, còn ông N yêu cầu Tòa án không công nhận ông Ngô và bà Hợi là vợ chồng. Xét thấy, mặc dù bà H và ông N không có đăng ký kết hôn nhưng căn cứ vào điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội, Tòa án thụ lý giải quyết ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương phản ánh ông N thường xuyên đánh đập bà H, có những lần ông N đánh bà H phải đi bệnh viện cấp cứu. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà H và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ cho bà H được ly hôn ông N theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ông N yêu cầu Tòa án không công nhận ông N và bà H là vợ chồng là không đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về con chung: Chị Đặng Thị Thúy H, sinh năm 1987 và anh Đặng Quốc V, sinh năm 1989 đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Đặng Khắc N đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Đặng Khắc N.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án bà H đã nộp theo Biên lai số 0005825 ngày 11 tháng 12 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 88/2020/HNGĐ-ST ngày 28/05/2020 về ly hôn

Số hiệu:88/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nghi Lộc - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về