Bản án 87/2020/HNGĐ-ST ngày 11/08/2020 về tranh chấp yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 87/2020/HNGĐ-ST NGÀY 11/08/2020 VỀ TRANH CHẤP YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 11 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 94/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp yêu cầu ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th), sinh năm 1991 Địa chỉ: ấp TH, xã VH A, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu Chỗ ở hiện nay: ấp 8, xã TT, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu.

2/. Bị đơn: Anh Hồ Thanh Ph, sinh năm 1976 Địa chỉ: ấp LL, xã ĐT A, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu (Chị Th có đơn xin vắng mặt, anh Ph vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 19/02/2020, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: giữa chị và anh Hồ Thanh Ph đi đến hôn nhân do quen biết, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo Ph tục tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT A, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 03/3/2014 và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn theo chị Th xác định: Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cãi nhau, từ đó dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2014 cho đến nay, chị Th xác định chị không còn tình cảm với anh Ph, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn hay tiếp tục chung sống, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Thanh Ph.

Về con chung: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Hồ Trần Kim A, sinh ngày 30/5/2015, hiện con đang sống với anh Ph. Khi ly hôn chị Th đồng ý tiếp tục giao con chung cho anh anh Ph nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với anh Hồ Thanh Ph: Mặc dù anh Ph đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Ph vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án, và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh Ph theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Hồ Thanh Ph chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: giữa chị Th và anh Ph kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, hiện tại chị Th xác định chị không còn tình cảm với anh Ph, vợ chồng không còn khả năng tiếp tục chung sống. Điều này chứng tỏ như vậy cuộc sống vợ chồng của chị Th và anh Ph nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Th được ly hôn với anh Ph là phù hợp với quy định của pháp luật;

Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao con chung cho anh Ph được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục khi ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí thì chị Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Hồ Thanh Ph. Anh Hồ Thanh Ph có địa chỉ cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.

Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Th.

Anh Hồ Thanh Ph đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh Ph vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Ph.

[2] Về nội dung vụ án: giữa chị Th và anh Ph kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã ĐT A, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 03/3/2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Th và anh Ph thì Hội đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị Th và anh Ph lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Hiện anh chị đã sống ly thân với nhau một khoảng thời gian dài nhưng cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Chị Th xác định vợ chồng chị không còn khả năng tiếp tục chung sống, tình cảm vợ chồng không còn. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng của chị Th và anh Ph là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của chị Th và anh Ph không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh Ph là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Từ lúc vợ chồng chị Th và anh Ph sống ly thân với nhau anh Ph là người trực tiếp nuôi con chung. Anh Ph vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này, mặc khác cháu Kim A có nguyện vọng được sống với cha là anh Hồ Thanh Ph khi cha mẹ cháu ly hôn và chị Th cũng đồng ý giao con chung cho anh Ph được tiếp tục, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ý kiến của chị Th và cháu Kim A là hoàn toàn tự nguyện và không bị ai đe dọa hay ép buộc. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giao con cho anh Ph được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục khi ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không xem xét giải quyết.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Th (Trần Thị Th); Xử cho chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) được ly hôn với anh Hồ Thanh Ph.

2/.Về nuôi con chung: Giao người con chung tên Hồ Trần Kim A, sinh ngày 30/5/2013 cho anh Hồ Thanh Ph được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết

3/. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết

4/. Về án phí: Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008115 ngày 26 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho Chị Trần Thị Th (Trần Thị Th) và anh Hồ Thanh Ph được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


33
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 87/2020/HNGĐ-ST ngày 11/08/2020 về tranh chấp yêu cầu ly hôn

Số hiệu:87/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hải - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:11/08/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về