Bản án 87/2019/HS-ST ngày 18/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 87/2019/HS-ST NGÀY 18/06/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2019, đối với bị cáo:

Ngô T, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1983 tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 2/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T và bà Chu Thị V; chồng không có, có 01 con sinh năm 2015; tiền án: Có 01 tiền án về hành vi Trộm cắp tài sản (Bản án số 08/2017/HS- ST ngày 28/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn); tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2019 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Bà Lương H, sinh năm 1962. Địa chỉ: Đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 16/02/2019, Ngô T một mình đi taxi đến nhà bà Lương H để hỏi vay tiền nhưng bà Lương H không cho. Sau khi không vay được tiền Ngô T xin ngủ nhờ và được bà Lương H đồng ý. Tại đây, Ngô T thấy bà Lương H mang tiền hàng ra đếm rồi cất số tiền này vào chiếc túi xách bằng vải màu đen và mang túi vào phòng ngủ đặt ở trong hộp bìa catton để trên két sắt kê ở gần lối ra vào nên Ngô T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đến khoảng 21 giờ, Ngô T và bà Lương H đi ngủ, bà Lương H ngủ trong phòng ngủ của mình còn Ngô T ngủ trên giường ngoài phòng khách. Khoảng 23 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc bà Lương H đã ngủ say, Ngô T lén lút đi vào phòng ngủ lấy trộm 18.000.000 đồng trong chiếc túi xách của bà Lương H rồi bắt taxi về phòng trọ của bạn trai là Hoàng Văn C. Sau đó, Ngô T mượn điện thoại số thuê bao 0362547206 của Hoàng Văn C, nhắn tin vào số điện thoại của bà Lương H thú nhận mình đã lấy trộm tiền, nhắn tin xong Ngô T xoa luôn tin nhắn để Hoàng Văn C không biết. Số tiền trộm cắp được Ngô T đã tự tiêu xài cá nhân hết.

Cáo trạng số 92/CT-VKSTP ngày 24 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Ngô T về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Ti phiên tòa, bị cáo Ngô T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý trả số tiền 18.000.000 đồng như yêu cầu của bà Lương H.

Bà Lương H trình bày: Tại phiên tòa hôm nay nội dung bị cáo trình bày là đúng. Khoảng 23 giờ ngày 16/02/2019, lợi dụng bà Lương H ngủ say bị cáo Ngô T đã lấy trộm 18.000.000 đồng của bà Lương H để trong túi xách trong phòng ngủ. Về trách nhiệm dân sự bà Lương H yêu cầu bị cáo Ngô T phải trả lại toàn bộ số tiền 18.000.000 đồng đã lấy trộm. Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo một hình phạt thật nghiêm khắc để răn đe bị cáo và những người khác có ý định trộm cắp tài sản.

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô T phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung vì qua xác minh bị cáo không có tài sản để đảm bảo thi hành án. Về trách nhiệm dân, buộc bị cáo phải trả cho bà Lương H số tiền 18.000.000 đồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 16/02/2019, tại nhà bà Lương H đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Ngô T đã có hành vi trộm cắp tài sản là số tiền có trị giá 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) của bà Lương H. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, quyền này được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản, hành vi đó của bị cáo đã ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố.

[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu năm 2017 bị Tòa án kết án 06 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Điều đó cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án tại Bản án số 08/2017/HS- ST ngày 28/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vì vậy, bị cáo có một tình tiết tăng nặng "tái phạm", quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh thể hiện bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà Lương H và bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau, bị cáo phải bồi thường số tiền 18.000.000 đồng cho bị hại. Xét thấy việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 357; Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử công nhận.

[9] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Điều 357; Điều 584; Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thi hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2019.

3. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Ngô T và bị hại bà Lương H. Bị cáo Ngô T có trách nhiệm trả cho bà Lương H số tiền 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về án phí: Bị cáo Ngô T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 87/2019/HS-ST ngày 18/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:87/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về