Bản án 87/2019/HS-ST ngày 18/04/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, TP.HCM

BẢN ÁN 87/2019/HS-ST NGÀY 18/04/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2019/TLST/HSST ngày 15 tháng 03 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 04 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn Q, sinh năm: 1994; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 6/5 đường số 8, khu phố 1, phường Linh Xuân, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 6/5 đường số 8, khu phố 1, phường Linh Xuân, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Không rõ và bà: Nguyễn Thị Dung; Chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị t ạm giam tư ngày 06/7/2018. (Có mặt)

- Bị hại: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 2006 (vắng mặt)

Địa chỉ: số 30, đường số 11, khu phố 5, phường Linh Xuân, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đi diện hợp pháp của bị hại:

Bà Nguyễn Ngọc Anh, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: số 30, đường số 11, khu phố 5, phường L, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/6/2018, Nguyễn Tuấn Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Janus màu trắng, biển số: 59X3-266.93 đi từ thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương về phường Linh Xuân, quận Đ. Khi lưu thông đến đường số 9, khu phố 5, phường Linh Xuân, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, Q phát hiện em Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 2006 đang đi bộ trên đường và cầm điện thoại di động hiệu Tyred màu đỏ trên tay đang nghe điện thoại, sau đó cất vào túi. Lúc này, Q nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của em T để bán lấy tiền tiêu xài. Q điều khiển xe chạy vòng lại phía sau em T để quan sát. Khi đến trước số 29 Đường số 9, Khu phố 5, phường Linh Xuân, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, Q thấy em T lấy điện thoại trong túi ra để nghe, Q điều khiển xe lên trên vỉa hè áp sát bên phải của em T dùng tay trái giật chiếc điện thoại trên tay của em T rồi tẩu thoát về hướng Quốc Lộ 1K. Do không bán được điện thoại nên Q đã cho Dương Văn Tuấn sử dụng. Ngày 06/7/2018, Nguyễn Thị Thu T đến Công an phường Linh Xuân trình báo.

Kết luận định giá tài sản số 1515 ngày 16/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ kết luận chiếc điện thoại di động hiệu Tyred màu đỏ có giá trị là 1.500.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Tyred màu đỏ.

- 01 xe honda hiệu Janus, biển số: 59X3-266.93 - 01 áo thun màu đỏ trắng.

- 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu trắng nâu.

* Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ đã trả lại chiếc điện thoại cho em Nguyễn Thị Thu T, em T không yêu cầu gì thêm.

[2] Bản Cáo trạng số 63/CT-VKSTĐ ngày 20/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đ truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn Q về tội “Cướp giật tài sản” theo Điểm d, g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản” và áp dụng Điểm d, g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cùng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, phần dân sự đã giải quyết xong và đề nghị giải quyết vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được. Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/6/2018, Nguyễn Tuấn Q đã có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Janus màu trắng, biển số 59X3 – 266.93 nhanh chóng, áp sát giật 01 điên thoai di đông hiệu Tired màu đỏ có giá trị là 1.500.000 đồng của cháu Nguyễn Thị Thu T (sinh năm 2006) tại trước nhà số 29 Đường số 9, Khu phố 5, phường Linh Xuân, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điểm d, g Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Bên cạnh đó cũng xem xét trong vụ án này bị cáo đã sử dụng xe mô tô ép sát, ngay tức khắc giật tài sản của bị hại và tăng ga bỏ chạy là gây nguy hiểm cho bị hại cũng như người tham gia giao thông. Hơn nữa bị hai trong vụ án này là người dưới 16 tuổi đã thuộc trường hợp định khung quy định tại điểm d, g khoản 2 điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ nghèo có xác nhận của chính quyền địa phương là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra trong vụ án này đối với Dương Văn Tuấn đã được bị cáo tặng cho chiếc điện thoại do bị cáo cướp giật được nhưng không biết do phạm tội mà có nên không xử lý hình sự đối với anh Tuấn.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản va đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.

Vê vât chưng vu an : Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Tyred màu đỏ; 01 xe honda hiệu Janus, biển số: 59X3-266.93; 01 áo thun màu đỏ trắng; 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu trắng nâu. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Tyred màu đỏ đã trả lại cho bị hại. Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun màu đỏ trắng. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu trắng nâu. Riêng đối xe mô tô biển số: 59X3-266.93 do bị cáo đứng tên chủ sở hữu. Trong vụ án này bị cáo đã dụng chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội. Vì vậy cần tịch thu sung công là đúng quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tuấn Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Áp dụng Điểm d, g Khoản 2 Điều 171; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2018.

- Áp dụng Điêu 47 Bô luât hinh sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun màu đỏ trắng;Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn Q 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu trắng nâu.(Theo phiếu nhập kho số NKT2019/119 ngày 11/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đ) Tịch thu sung công 01 xe honda hiệu Janus, biển số: 59X3-266.93. (Phiếu nhập kho số NKT2019/118 ngày 11/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đ)

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Tuấn Q chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Riêng bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, thời gian kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.


15
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 87/2019/HS-ST ngày 18/04/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:87/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân TP Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về