Bản án 87/2019/HNGĐ-ST ngày 18/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 87/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/06/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2019/QĐXX-ST ngày 20 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn 8, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn T sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn 8, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 02 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Nguyễn Thị O trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau do tự nguyện, được tổ chức lễ cưới theo phong tục, được Ủy ban nhân dân xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên cấp Giấy đăng kí kết hôn số 22, Quyển số 01 ngày 08 tháng 8 năm 2001. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay; Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không quan tâm đến nhau. Do tình cảm không còn, chị O yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Phạm Văn T.

Về con chung: Chị O và anh T có bốn con là Phạm Thị P sinh năm 2001, Phạm Như Q sinh năm 2006, Phạm Anh T sinh năm 2012 và Phạm Gia B sinh năm 2014. Khi ly hôn chị O có nguyện vọng để các con ăn ở ổn định như hiện nay, chị nhận trách nhiệm tiếp tục nuôi con Phạm Thị P và Phạm Gia B, để cho anh T tiếp tục nuôi con Phạm Như Q và Phạm Anh T; không yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, khoản 2 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn T; giao con Phạm Thị P và Phạm Gia B cho chị O trực tiếp nuôi, giao con Phạm Như Q và Phạm Anh T cho anh T trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; chị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: Anh Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phạm Văn T.

[2] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị O và anh T là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, không quan tâm, không tin tưởng lẫn nhau. Vậy, xác định yêu cầu xin ly hôn của chị O đã thỏa mãn những căn cứ cho ly hôn quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình, cần giải quyết cho ly hôn giữa chị O và anh T.

[3] Về con chung: Các bên có con chung như chị O trình bày là đúng, con Phạm Thị P và Phạm Gia B đang do chị O nuôi, con Phạm Như Q và Phạm Anh T đang do anh T nuôi. Việc giao con cho bên nào nuôi cần căn cứ vào thực tế chăm sóc con của các bên, điều kiện ăn ở hiện nay của các con và xét đến với nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Cháu P có nguyện vọng được ở với mẹ, vậy nên giao cho chị O nuôi cháu P và cháu B; cháu Q và cháu T có nguyện vọng được ở với bố nên giao cho anh T nuôi là phù hợp với quy định tại các điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân Gia đình.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn T không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị O khai không có, không yêu cầu giải quyết. Do chưa có lời khai của anh Phạm Văn T nên không xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 92, 147 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn T.

Về nuôi con chung: Giao con Phạm Thị P sinh ngày 01 tháng 01 năm 2001 và Phạm Gia B sinh ngày 04 tháng 12 năm 2014 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi; giao con Phạm Như Q sinh ngày 06 tháng 6 năm 2006 và Phạm Anh T sinh ngày 06 tháng 01 năm 2012 cho anh Phạm Văn T trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Văn T không yêu cầu nên không xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị O khai không có, không yêu cầu giải quyết. Do chưa có lời khai của anh Phạm Văn T nên không xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị O phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng biên lai số 0000427 ngày 11 tháng 3 năm 2019. Chị Nguyễn Thị O đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 87/2019/HNGĐ-ST ngày 18/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:87/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về