Bản án 86/2018/HNGĐ-ST ngày 05/10/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 86/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/10/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 05 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92a/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung D, sinh năm 1984.

Đa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Khối 3, phường Q, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đa chỉ cư trú hiện tại: TR.T.G Masaryka 810. 47301. Novy’ Bor, Czech Republic (Cộng Hòa Séc). Vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1981.

Đa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Khối C, Phường V, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đa chỉ cư trú hiện tại: TG Masaryca 849, Novy’bor, Czech Republic (Cộng Hòa Séc). Vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1 Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Trung D trình bày: Anh và Chị Nguyễn Thị Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vào ngày 10/7/2013. Sau khi kết hôn, vì lý do công việc nên chị Th phải sang Cộng hòa Séc để làm việc, đến tháng 3/2015 anh cũng sang Cộng hòa Séc để đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp nên tình cảm dần phai nhạt. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và chị Th đã có tình cảm với người đàn ông khác. Vì vậy, anh Nguyễn Trung D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với Chị Nguyễn Thị Th.

Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Trung D đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Séc. Để giải quyết việc ly hôn, anh đã về Việt Nam làm thủ tục ly hôn với Chị Nguyễn Thị Th tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Nhưng vì công việc nên anh phải tiếp tục sang Cộng Hòa Séc để làm việc. Do đó anh không thể trực tiếp tham gia phiên tòa và anh đã nộp đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh.

Bị đơn Chị Nguyễn Thị Th vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nhưng có bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An (được hợp pháp hóa lãnh sự, có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng Hòa Séc vào ngày 28/5/2018) trình bày: Chị thừa nhận về thời gian, điều kiện, địa điểm đăng ký kết hôn đúng như anh Nguyễn Trung D trình bày.

Về nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến hay cãi vã làm cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, anh Nguyễn Trung D làm đơn xin ly hôn thì chị cũng chấp nhận.

Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Nguyễn Trung D tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Th đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Séc nên không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Trung D nên đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị. Đồng thời chị Th đề nghị Tòa án gửi các văn bản của Tòa án đến chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1986, trú tại xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và chị Ca sẽ có trách nhiệm thông báo và gửi cho chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án Ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th đang cư trú tại Cộng hòa Séc; trước xuất cảnh, anh D và chị Th có địa chỉ cư trú tại Nghệ An. Vào ngày 10 hay 11/5/2018 anh D đã về Việt Nam và đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An làm thủ tục ly hôn với Chị Nguyễn Thị Th nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại các Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th đang ở nước ngoài và đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai và toàn bộ tài liệu mà anh, chị đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vào ngày 10/7/2013, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau. Hiện tại anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Nguyễn Trung D yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.

[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Trung D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào các Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 2, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Trung D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn.

2. Về con chung: Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Trung D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000711 ngày 18/5/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Trung D đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Trung D và Chị Nguyễn Thị Th có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

122
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 86/2018/HNGĐ-ST ngày 05/10/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:86/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 05/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về