Bản án 846/2018/HSPT ngày 21/12/2018 về tội giết người

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 846/2018/HSPT NGÀY 21/12/2018 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 21 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 532/2018/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo Phạm Thị X bị xét xử sơ thẩm về tội “Giết người”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2018/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

* Bị cáo có kháng cáoPhạm Thị X, sinh năm 1952; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Thường K, xã Vũ L, huyện Tiền H, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: thôn Lê L1, xã Vũ L, huyện Tiền H, tỉnh Thái Bình; trình độ học vấn: Lớp 7/10; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Phạm Văn S và bà Trần Thị Nh (đều đã chết); có chồng là Lê Văn T và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1977, con nhỏ nhất sinh năm 1985; bị cáo chưa có tiền sự, tiền án; bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2017 đến nay. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trịnh Thị T1, Công ty TNHH Năm Ch, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

* Người bị hại: Cháu Lê Minh A, sinh ngày 03/11/2017 (đã chết).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của người bị hại không kháng cáo, Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thị X có con trai là Lê Văn Th, sống tại khu phố 1, phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng X thường xuyên gửi đồ rau, củ, quả, nông sản... từ Thái Bình cho gia đình anh Th và thỉnh thoảng vào Bỉm Sơn, Thanh Hóa thăm con, cháu.

Ngày 03/11/2017, vợ chồng anh Th, chị Phạm Thị Thanh H sinh con gái thứ ba là cháu Lê Minh A nên Phạm Thị X từ quê ở Thái Bình vào để giúp vợ chồng anh Th chăm sóc cháu Lê Minh A. Cháu Lê Minh A do sức khỏe yếu, thường hay quấy khóc và được chẩn đoán rối loạn tiêu hóa và viêm phổi nặng đã được gia đình đưa đi cấp cứu, điều trị, sau đó sức khỏe ổn định nên được đưa về nhà.

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 25/11/2017, chị H cho cháu Minh A bú. Sau đó, chị H đặt cháu nằm ngủ tại giường trong buồng giáp phòng khách. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Thị X vào bế cháu ra ngồi ở sạp kê ở phòng khách xem ti vi. Khi thấy cháu Minh A ọ ọe tỉnh giấc, X đứng dậy, đi lại đung đưa cho cháu Minh A ngủ tiếp. Trong lúc ru cháu Minh A ngủ, X di chuyển ra phía cửa nhà, chân nhún, tay rung để ru cháu Minh A ngủ. Nhà anh Th thiết kế, giữa phòng khách và khu vực sân phía trước có độ cao thấp không đều nhau, nền nhà cao hơn nền sân 11cm, do mải xem phim nên X vẫn ngoảnh đầu lại xem ti vi nên bị hẫng chân và ngã dúi người về phía trước ngay cửa chính. Bị ngã bất ngờ, X để tuột cháu Minh A khỏi tay rơi xuống đất, đồng thời X cũng ngã theo đè lên người cháu Minh A. Sau khi bị ngã, X vội vàng ngồi dậy, bế cháu Minh A lên thì thấy cháu thở khò khè, bị nấc, đầu ngửa ra phía sau, sữa từ miệng trào ra ngoài. Thay vì hô hoán mọi người đưa cháu Minh A đi cấp cứu thì Phạm Thị X lại cho rằng cháu Minh A sẽ chết. Do sợ vợ chồng anh Th, chị H trách giận nên X nảy sinh ý định che giấu sự việc bằng cách lấy chăn đang cuốn sẵn trên người chùm kín lên mặt, mũi cháu rồi bế cháu Minh A ra ngoài đường, đi về phía bãi cỏ dại ven đường đối diện (cách nhà anh Th khoảng 30m), X nhặt 01 túi nilon màu xanh bỏ cháu Minh A vào túi nilon rồi thắt nút lại, giấu vào khu vực bãi cỏ. Sau đó, X quay về trên tay vẫn cầm khăn trắng lót cổ cho cháu, nằm xuống rìa đường trước cổng nhà ông bà S1, Th1 (là hàng xóm nhà anh Th) giả vờ bất tỉnh. Lúc này anh Th đi đón con trai đi học về, không thấy X và cháu Minh A đâu nên đi tìm thì thấy X đang nằm ở đường phía trước gần nhà, lòng bàn tay trái X có dính máu dạng quệt. Anh Th đưa X vào nhà, X nói với mọi người là bị 02 đối tượng (01 nam, 01 nữ) cầm dao vào nhà, khống chế đe dọa khi X đang bế cháu Minh A, các đối tượng túm tóc, bịt miệng, kéo X ra ngoài đường, đối tượng nữ giật cháu bé từ tay X, đối tượng nam lên xe máy đạp ngã X rồi bế cháu Minh A đi. Ngay sau đó, anh Lê Hữu Th đã báo cáo sự việc đến Công an phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 25/11/2017 và 26/11/2017, tại Cơ quan điều tra Phạm Thị X vẫn khai nhận với nội dung có 01 đôi nam, nữ bắt cóc cháu Minh A như nêu trên. Sau khi làm việc, X được cho về nhà, đến khoảng 20 giờ ngày 26/11/2017, do lo sợ bị mọi người phát hiện thấy xác cháu Minh A nên X xách xô rác sinh hoạt của gia đình anh Th và cầm theo 01 bì xác rắn màu vàng cam, giả vờ đi đổ rác. X để xô rác và bì tại vị trí trước cổng nhà anh Th rồi đi lại nơi giấu xác cháu Minh A, xách túi nilon đựng xác cháu Minh A cho vào bì xác rắn và lấy dây buộc lại, để bên cạnh xô rác và để túi rác lên trên.

Sáng ngày 27/11/2017, công nhân dọn vệ sinh môi trường khu vực phường Bắc Sơn đi thu gom rác đã thu gom bì xắc rắn có xác cháu Minh A bên trong bỏ lên xe chở rác rồi đưa về tập kết tại bãi rác sinh hoạt của thị xã Bỉm Sơn. Đến khoảng 09 giờ ngày 27/11/2017, bà Dương Thị Th2 và ông Nguyễn Đức Th đi nhặt phế liệu tại bãi rác, phát hiện 01 bao tải màu vàng cam nên mở ra và phát hiện thấy xác 01 cháu bé sơ sinh quấn chăn màu vàng nâu, bên ngoài bao tải có ghi chữ “THUẬN” và số điện thoại 0916.623.518 (số điện thoại của anh Th) nên bà Th2 đã trình báo cơ quan chức năng đến giải quyết.

Tại Kết luận giám định số 109/SH-PC54 ngày 31/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thanh Hóa giám định ADN tử thi, xác định nạn nhân chính là cháu Lê Minh A.

Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 6007/C54-TT1 ngày 05/12/2017 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận về nguyên nhân chết của cháu Lê Minh A là: “Ngạt cơ học do cản trở đường hô hấp trên”… trong mẫu phủ tạng không tìm thấy các chất độc thường gặp; Thời gian chết: sau bữa bú cuối cùng không quá 2 giờ đồng hồ.

Quá trình triệu tập làm việc, Cơ quan điều tra phát hiện trên lòng bàn tay trái của X có dính nhiều máu nên đã trưng cầu giám định, kết quả giám định là máu của cháu Minh A. Qua đấu tranh khai thác, ngày 28/11/2017 Phạm Thị X đã khai nhận là thủ phạm gây ra cái chết cho cháu Lê Minh A và dựng nên sự kiện 01 đôi nam, nữ bắt cóc cháu bé để che dấu hành vi của mình.

Quá trình điều tra có tài liệu phản ánh về động cơ, mục đích phạm tội của Phạm Thị X có liên quan đến việc mê tín, dị đoan, nghe lời thầy bói nhằm giết cháu Minh A từ trước hoặc do nghi ngờ cháu Minh A không phải cháu ruột của mình nên làm hại cháu. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh các nội dung liên quan nhưng không có căn cứ xác định.

Ngày 02/02/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, Phạm Thị X đã diễn tả lại toàn bộ hành vi, diễn biến sự việc. Kết quả thực nghiệm điều tra và lời khai của bị can X phù hợp với các dấu vết, tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2018/HS-ST ngày 29/5/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa áp dụng điểm c khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015; xử phạt Phạm Thị X 13 năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2017.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/6/2018, bị cáo Phạm Thị X kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị X trình bày: Có 02 đối tượng vào nhà đe dọa và bắt cóc cháu Minh A, các đối tượng dọa nếu bị cáo nói ra sự thật sẽ giết con cháu của bị cáo, do lo sợ nên bị cáo không khai nhận sự việc.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận có 02 đối tượng đe dọa để bắt cóc cháu Minh A nên cần làm rõ ai là người đe dọa bị cáo? Lời khai của bị cáo như lời khai ban đầu khi mới xảy ra vụ án, để thận trọng và bảo vệ quyền lợi cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để làm rõ 02 đối tượng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo của bị cáo, có quan điểm như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo loanh quanh chối tội, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhưng căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thấy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Phạm Thị X phạm tội “Giết người” theo điểm c khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Hình phạt 13 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo là có căn cứ; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Phạm Thị X.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Mặc dù, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Phạm Thị X khai báo quanh co; tuy nhiên, căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường; kết quả thực nghiệm điều tra; biên bản khám nghiệm tử thi; lời khai của người làm chứng; lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 25/11/2017, Phạm Thị X vừa bế cháu Lê Minh Anh vừa mải xem tivi, do bị hẫng chân nên X ngã dúi người về phía trước, cháu Minh A tuột khỏi tay X rơi xuống đất, người X đè lên người cháu Minh A. X bế cháu Minh A lên thì thấy cháu Minh A thở khò khè, bị nấc, đầu ngửa ra phía sau, sữa từ miệng trào ra ngoài, biết cháu Minh A chưa chết, nhưng X không những không cứu giúp cháu Minh A hoặc hô hoán mọi người cứu giúp mà còn có hành động lấy chăn đắp kín mặt cháu, rồi bế cháu Minh A cho vào túi nilon thắt nút lại và dấu vào đám cỏ phía trước nhà, trong điều kiện thời tiết giá lạnh khi cháu Minh A mới sinh được 23 ngày tuổi, dẫn đến hậu quả cháu Minh A bị chết. Nguyên nhân cháu Minh A chết, theo Bản kết luận giám định pháp y số 6007/C54-TT1 ngày 05/12/2017 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an là “Ngạt cơ học do cản trở đường hô hấp trên”. Hành vi nêu trên của Phạm Thị X đã phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan và không có căn cứ để hủy bản án sơ thẩm như đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Thị X, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình điều tra ở giai đoạn sau và tại các phiên tòa, bị cáo X cũng đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động với gia đình, bồi thường một phần thiệt hại cho đại diện bị hại; chồng bị cáo là người tham gia kháng chiến, có công với cách mạng, bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam, đang được hưởng chế độ chính sách ưu đãi của Nhà nước, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo là có căn cứ.

Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã tước đoạt trái pháp luật sinh mạng cháu Lê Minh A khi cháu mới 23 ngày tuổi, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương; thời gian đầu khi phát hiện vụ việc bị cáo còn bịa đặt cháu Minh A bị các đối tượng xấu khống chế, bắt cóc, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân và dư luận cả nước nên cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, nên mức hình phạt 13 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị X vẫn loanh quanh chối tôi nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo cũng như luận cứ của luật sư bào chữa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mà cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Phạm Thị X.

[3] Kháng cáo của bị cáo Phạm Thị X không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, Căn cứ Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Thị X; giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Phạm Thị X.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; xử phạt Phạm Thị X 13 (Mười ba) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[2] Về án phí: Bị cáo Phạm Thị X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


2234
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 846/2018/HSPT ngày 21/12/2018 về tội giết người

Số hiệu:846/2018/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/12/2018
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về