Bản án 84/2018/HS-ST ngày 12/11/2018 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 84/2018/HS-ST NGÀY 12/11/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Vũ Xuân H, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1966 tại xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: X 5, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn N (đã chết) và bà Vũ Thị D; có vợ là Đặng Thị P và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo H: Ông Nguyễn Thành M - Luật sư Văn phòng luật sư M thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tuyên Quang, “có mặt”.

- Bị hại: Ông Phạm Hồng H, sinh năm 1956; nơi cư trú: Số 159 H, phường Tí, thành phố Vĩ, tỉnh Vĩnh Phúc (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đàm Thị N, sinh năm 1957; nơi cư trú: Số 159 H, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Tự do; là vợ bị hại, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05 tháng 5 năm 2018, Vũ Xuân H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 22B - 005.50, nhãn hiệu Ford Transit, loại 16 chỗ ngồi chở khách từ xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đi theo đường tỉnh lộ 310 để sang huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 15 giờ cùng ngày khi đi đến khu vực ngã ba Km 8 đường 310 là đường một chiều hướng thị trấn Tam Đảo đi Đại Lải thuộc địa phận thôn T, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, bên phải đường giao nhau với đường vào thôn H, xã H, huyện B, bên trái có 01 lối mở của giải phân cách cứng rộng 29,40m cách nơi giao nhau khoảng 50m về phía Tam Đảo và tại dia đường bên phải theo chiều đi của H có 01 biển báo giao nhau với đường vào thôn H, xã H. H điều khiển xe ô tô giáp giải phân cách cứng, đi với tốc độ khoảng 45 – 50 km/h thì gặp xe mô tô biển kiểm soát 88F1 - 287.63 do ông Phạm Hồng H điều khiển đang đi từ đường thôn H, xã H, huyện B đi vào lối mở của giải phân cách cứng để sang đường hướng Đại Lải đi Tam Đảo. Lúc này H vẫn giữ tốc độ khoảng 45 đến 50 km/h, khi cách đầu xe mô tô của ông H khoảng 05 đến 07m thì H đạp phanh đánh lái sang trái nhưng do khoảng cách gần nên phần ba đờ sốc phía trước bên phải dưới đèn chiếu sáng xe ô tô của H điều khiển đã đâm vào phía bên trái chắn bùn bánh trước, giảm sóc bên trái bánh trước và sườn bên trái xe mô tô của ông H điều khiển làm xe mô tô đổ trái xuống đường, ông Hi bị văng đập vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô rồi rơi xuống đường bất tỉnh, còn xe ô tô H điều khiển lao sang phần đường ngược chiều hướng Đại Lải đi Tam Đảo được 68,33m thì dừng lại. Hậu quả: Ông H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc sau đó chuyển Bệnh viện hữu nghị Việt Đức điều trị đến ngày 07 tháng 7 năm 2018 thì tử vong.

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Bình Xuyên đã tiến hành vẽ sơ đồ vụ tai nạn, chụp ảnh hiện trường và phương tiện, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông theo đúng quy định của pháp luật và các bên liên quan không có ý kiến gì.

Trên cơ sở trưng cầu của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Xuyên, ngày 17 tháng 7 năm 2018 Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đã kết luận: Nguyên nhân ông H tử vong là do bị Chấn thương bụng kín (vỡ cơ hoành, dập mặt trước thùy gan trái) sau phẫu thuật điều trị không phục hồi/ Đa thương tích.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit biển kiểm soát 22B - 005.50 cùng toàn bộ giấy tờ xe cho Vũ Xuân H; thu giữ và trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 88F1- 287.63 cho bà Đàm Thị N; tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng E của H và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 của ông H.

Tại Cáo trạng số 83/CT - VKSBX ngày 19 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo Vũ Xuân H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với Vũ Xuân H, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo H từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 cấm hành nghề lái xe ô tô đối với Vũ Xuân H từ 01 đến 02 năm.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền là 200 triệu đồng; tịch thu tiêu hủy 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Phạm Hồng H do không còn giá trị sử dụng và trả lại 01 giấy phép lái xe cho Vũ Xuân H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành hình phạt bổ sung.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Xuân H trình bày bản bào chữa khẳng định Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1, 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo H từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi và đề nghị miễn hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của bị hại là bà Đàm Thị N xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường là 200 triệu đồng của bị cáo và không có yêu cầu gì khác về dân sự, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Xuân H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Vũ Xuân H khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05 tháng 5 năm 2018, bị cáo có giấy phép lái xe hạng E (hợp lệ) điều khiển xe ô tô chở khách, loại 16 chỗ ngồi, biển kiểm soát 22B - 005.50 trên đường tỉnh lộ 310 theo hướng Tam Đảo đi Đại Lải. Khi đến Km 8 thuộc địa phận thôn T, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc do không chấp hành biển báo, không quan sát kĩ và đảm bảo tốc độ an toàn theo quy định tại nơi đường bộ giao nhau, mặc dù bị cáo đã đánh lái sang trái để tránh xe sang đường nhưng phần ba đờ sốc phía trước bên phải của xe ô tô do bị cáo điều khiển và phần đầu bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 88F1 - 287.63 do ông Phạm Hồng H điều khiển đang đi vào lối mở của dải phân cách cứng để sang phần đường một chiều hướng Đại Lải đi Tam Đảo đã va chạm nhau. Hậu quả làm ông H bị ngã xuống đường, sau đó được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc và chuyển xuống Bệnh viện hữu nghị Việt Đức cấp cứu, điều trị đến ngày 07 tháng 7 năm 2018 thì tử vong.

 [2] Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người làm chứng; sơ đồ vụ tai nạn, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn; kết luận giám định pháp y; bản ảnh chụp tại hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi điều khiển xe ô tô của Vũ Xuân H đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định về tốc độ xe và vi phạm khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT- BGTVT ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới tham gia giao

thông đường bộ đã gây hậu quả làm ông Phạm Hồng H bị tử vong. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Vũ Xuân H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội danh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

 [3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ gây ra thiệt hại cho tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình bị hại cũng như của gia đình bị cáo. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của bị cáo còn kém. Đấu tranh với các hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông nói chung trong đó có an toàn giao thông đường bộ nói riêng nhằm thiết lập lại sự bình yên, hạnh phúc cho mọi người và trật tự, an toàn cho xã hội là cần thiết.

 [4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là đã tự nguyện khắc phục hậu quả với số tiền 200 triệu đồng để thăm hỏi, động viên và giúp gia đình bị hại tổ chức việc mai táng, thờ cúng bị hại; thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải và bị hại có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô sang đường không đảm bảo an toàn.

Tuy hậu quả gây ra là nghiêm trọng nhưng trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, được người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên hành vi phạm tội của bị cáo đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát và Luật sư bào chữa cho bị cáo là đủ tác dụng để răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội.

 [5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của bị hại cùng thống nhất thoả thuận về bồi thường dân sự với tổng số tiền là 200 triệu đồng; đồng thời tại phiên tòa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị ghi nhận về việc tự nguyện thỏa thuận bồi thường dân sự. Xét đây là thoả thuận tự nguyện và không trái pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ ghi nhận.

 [6] Về hình phạt bổ sung: Nghề nghiệp chính của bị cáo là lái xe nên phải cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự với thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

 [7] Về vật chứng của vụ án: Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều xác nhận đã được Cơ quan điều tra trả lại tài sản là xe mô tô bị thu giữ để phục vụ giải quyết vụ án và không có yêu cầu gì nên Toà không xét. Đối với giấy phép lái xe của bị cáo thì cần tạm giữ để đảm bảo thi hành hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe. Đối với giấy phép lái xe của bị hại do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

 [8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

 [9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên và của Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Vũ Xuân H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Xuân H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Vũ Xuân H hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Vũ Xuân H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng E số 080016000205 do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 16 tháng 3 năm 2016 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe ô tô (giấy phép lái xe do Tòa án tạm giữ).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015; các Điều 584, 585, 586 và 591 của Bộ luật Dân sự 2015.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo Vũ Xuân H cho người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Xác nhận người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Đàm Thị N đã nhận đủ số tiền trên theo biên bản nhận tiền ngày 27 tháng 7 năm 2018.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Phạm Hồng H.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Xuân H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


58
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về