Bản án 84/2018/HSST ngày 06/10/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 84/2018/HSST NGÀY 06/10/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

1. Trần Văn P, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Bố đẻ: Trần Văn Ch2, sinh năm 1970; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1977; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Anh Trần Văn T, sinh năm 1967 (đã chết)

Nơi cư trú: Xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Bà Phạm Thị X, sinh năm 1925 (mẹ đẻ bị hại)

2. Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1979 (Vợ bị hại)

3. Cháu Trần Hoàng Quốc Q, sinh năm 2009 (con bị hại)

4. Cháu Trần Hoàng Bảo N1, sinh năm 2011 (con bị hại)

5. Cháu Trần Hoàng Bảo Ch, sinh năm 2011 (con bị hại)

6. Cháu Trần Quỳnh H, sinh năm 2017 (con bị hại)

Đều trú tại: Xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

* Người đại diện hợp pháp của các cháu Trần Hoàng Quốc Q, Trần HoàngBảo N1, Trần Hoàng Bảo Ch, Trần Quỳnh H là chị Hoàng Thị N.

* Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại chị Hoàng Thị N: Ông Hoàng Văn M; sinh năm 1946; Trú tại: Xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

* Người làm chứng:

1. Ông Trần Văn Th, sinh năm 1968

Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định.

2. Anh Trần Văn Ch1, sinh năm 1970

Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định.

3. Ông Trần Văn Kh, sinh năm 1956

Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định.

4. Anh Trương Mạnh Th1, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định

5. Anh Bùi Tất Y, sinh năm 1975

Nơi cư trú: Xóm C, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định

6. Anh Trần Duy B, sinh năm 1966

Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định

7. Anh Trần Duy Th2, sinh năm 1973

Nơi cư trú: Thôn Th, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định.

8. Anh Trần Văn Th3, sinh năm 1979

Nơi cư trú: Xóm T, Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định

Bà Phạm Thị X là người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin xử vắng mặt; Các bị cáo và những người tham gia tố tụng đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h00’ ngày 02/10/2017, Trần Văn Ph ngồi uống nước ở sân nhà anh Trần Văn Ch1, sinh năm: 1970, trú tại: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định thì anh Trần Văn Kh, sinh năm: 1956 và Trần Văn Th, sinh năm: 1968 là người cùng thôn T sang nói: “Có một đối tượng đi xe máy lượn qua lượn lại ngó nghiêng nghi bắt trộm chó”. Thấy thế anh Ch1 bảo Ph ra xem thế nào. Ph một mình đi xe máy ra trước anh Th, anh Ch1 đi bộ ra sau, còn anh Kh đưa cháu về nhà rồi mới ra. Ph đi xe máy ra cánh đồng Son thuộc thôn T thì nhìn thấy anh Trần Văn T, sinh năm: 1967, trú tại: xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định đang ở dưới mé mương nước cúi xuống bắt một con chó khoảng gần 30kg, lông màu vàng cho vào trong bao tải. Gần chỗ anh T đứng có một chiếc xe máy màu đỏ dựng ở trên đường. Ph liền dựng xe máy và xông đến chỗ anh T rồi nói: “Ơ ông này sao lại bắt chó chovào bao vậy”. Thấy Ph xông đến anh T bỏ con chó ra và rút bình xịt ở túi quần phải xịt vào mặt Ph. Bị anh T xịt vào mặt, Ph liền thò tay phải túm cổ áo, giằng co ghì phần đầu anh T hướng xuống dưới còn tay trái thì đấm nhiều cái vào vùng đầu anh T đồng thời hô hoán để mọi người ra bắt giữ anh T. Lúc này Trần Văn Th4 đang chăn bò ở bờ ruộng thuộc cánh đồng Son - gần nơi xảy ra vụ việc nghe có tiếng hô hoán liền chạy đến vừa chạy Th4 vừa hô “Bà con ơi có người trộm chó”. Khi đến nơi Th4 thấy anh T và Ph giằng co với nhau trên tay anh T cầm một bình xịt đang xịt vào mặt, vào người anh Ph. Th4 liền xông vào giằng bình xịt trên tay anh T thì bị anh T xịt vào mặt và cổ. Bị anh T xịt Th4 thấy mắt bị cay, cổ bị rát nên Th4 đã xông vào dùng tay, chân đánh nhiều cái vào mặt, người anh T. Sau đó Th4 giằng được bình rồi đưa cho Ph. Anh T và Ph tiếp tục giằng co với nhau thì Ph bị trượt chân ngã ở mép đường giáp mương nước kéo cả anh T cùng ngã nằm đè lên người Ph. Th4 thấy thế liền túm áo kéo anh T sang một bên để không nằm đè lênngười Ph nữa. Ph vùng dậy lao đến từ phía sau ôm ngang người và hai tay anh T. Lúc này anh Ch1, anh Th và nhiều người dân xung quanh đã chạy đến người thì can ngăn, người thì cùng với Ph khống chế anh T, người thì tham gia đánh anh T,người thì hô hoán bảo kiểm tra xem trong người anh T có mang theo dao không. Th4 liền kiểm tra người anh T thì không thấy có dao chỉ có hai chiếc điện thoại di động ở trong túi quần nên đã lấy ra đưa cho anh Chiến. Được mọi người can ngăn và cùng bắt giữ, khống chế anh T nên Ph và Th4 bỏ anh T ra. Lúc này anh T đã bị khống chế ngồi bệt ở mép đường mặt quay ra máng nước. Anh Th, Ch1, Kh và nhiều người dân đã quây lấy anh T nhưng không ai đánh anh T. Thấy anh T đang ngồi ở trên đường Th4, Ph lại tiếp tục xông vào dùng tay, chân đánh anh T. Anh Ch1, anh Kh thấy vậy nên tiếp tục can ngăn không cho Ph, Th4 đánh anh T. Được can ngăn nên Ph và Th4 không đánh anh T nữa. Ph xuống mương nước để rửa mặt còn Th4 thì tiếp tục đi chăn bò ở cánh đồng làng Son. Người dân xung quanh biết việc bắt được trộm chó nên đã kéo đến đông và có nhiều người xông vào dùng chân tay đánh T, có người đã đốt chiếc xe máy của anh T. Anh Th thấy mọi người đến đông nên đã đi báo chính quyền địa p. Lúc này Trần Văn Th5 và Trần Văn S nghe người dân nói bắt được người trộm chó nên đã chạy ra xem. Thấy anh T đang ngồi ở mé đường Th5 và S cũng xông vào dùng chân đá vào người anh T nhiều cái. Anh T bị đau nằm xuống mé đường. Thấy Th5, S đánh anh T nên anh Trần Duy Th2 - là phó thôn và một số người đã can ngăn đẩy S và Th5 ra. Anh T ngồi dậy quay lưng lại phía Th5, S. Lúc này Trần Văn P có việc đi qua khu vực cánh đồng Son thấy mọi người nói chuyện bắt được trộm chó đã xông vào đứng sau lưng anh T dùng chân phải đạp mạnh 1 cái vào lưng anh T làm anh T ngã xuống mươngnước. Nhận được tin báo anh Trương Mạnh Th1 - phó công an xã Y , anh Bùi Tất Y - công an viên đã xuống ngay hiện trường thấy anh T bị ngã xuống mương nước nên anh Y, anh Th1 và anh Th2 đã xuống kéo anh T lên mép đường rồi dìu anh T ra xe máy để đưa về UBND xã Y. Khi anh T đang ngồi trên xe máy thì Th5, S tiếptục xông và đấm anh T. Anh B là trưởng thôn Th thấy thế can ngăn nên mọi người dừng lại. Anh Th1 và anh Y chở anh T về UBND xã và báo cho Công an huyện Ý Yên xuống giải quyết. Nhận được tin báo của công an xã Y, Công an huyện Ý Yên đã xuống trụ sở UBND xã Y để tiếp nhận anh T. Quá trình làm việc thấy anh T bị thương tích nặng nên Công an huyện Ý Yên đã đưa anh T đi bệnh viện huyện Ý Yên để cấp cứu. Tuy nhiên do thương tích nặng nên anh T đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định phối hợp với Công an huyện Ý Yên và các đơn vị chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, tiến hành các hoạt động điều tra thu thập tài liệu chứng cứ.

Quá trình khám nghiệm đã ghi nhận lại toàn bộ các dấu vết để lại tại hiện trường và thu giữ một số mẫu vật để phục vụ yêu cầu điều tra, xử lý vụ án gồm: chất màu nâu đỏ tại hiện trường để phục vụ khám nghiệm; xe mô tô đã bị cháy rụi.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 780/GĐKTHS ngày 13/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định kết luận: Nạn nhân Trần Văn T, SN 1967 chết do đa chấn thương, chấn thương sọ não, dập phổi, mất máu cấp, suy hô hấp; Cơ chế gây thương tích: Thương tích vùng đầu và ngực do vật cứng tác động trực tiếp; thương tích vùng cằm (rách dập da cơ) do tác động vật cứng diện rộng.

Ngày 20/4/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Nam Định tiến hành trưng cầu giám định bổ sung về cơ chế hình thành thương tích của anh T. Tại Công văn trả lời số 151/PC54 ngày 23/4/2018, Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định xác định thương tích của anh Trần Văn T có thương tích do chân, tay có thể gây nên được; có thương tích dùng chân, tay không thể gây nên được.

Quá trình điều tra anh Trần Văn Th3, sinh năm: 1979, trú tại: xóm T, thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Nam Định một đĩa DVD ghi lại nội dung các đối tượng đánh anh T. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ công an (C54) để xác định nội dung trong đĩa DVD có bị sửa chữa hay thay đổi gì không. Tại Kết luận giám định số 6417/C54-P6 ngày 25/12/2017 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận: không phát hiện dấu vết sửa chữa hoặc thay đổi trong file video được lưu trong đĩa DVD ký hiệu M gửi giám định.

Quá trình khám nghiệm tử thi các cơ quan chức năng xác định thương tích trên cơ thể anh T có thương tích do chân tay gây nên, có thương tích là do vật cứng tác động trực tiếp; có thương tích do tác động vật cứng diện rộng. Hiện nay quá trình điều tra chưa xác định được ngoài việc các bị can và người dân dùng chân tay để đánh anh T thì còn dùng vật cứng gì để đánh anh T không, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Nam Định đã tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Căn cứ vào tài liệu điều tra thu thập được Cơ quan CSĐT công an tỉnh Nam Định đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam đối Trần Văn Ph, Trần Văn Th4, Trần Văn Th5, Trần Văn S để tiến hành điều tra. Kết thúc giai đoạn điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Nam Định đã ra Bản kết luận điều tra và Viện KSND tỉnh Nam Định đã ra Cáo trạng truy tố Trần Văn Ph, Trần Văn Th4, Trần Văn Th5, Trần Văn S về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 17/7/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã xét xử Trần Văn Ph, Trần Văn Th4, Trần Văn S, Trần Văn Th5 về tội “Cố ý gây thương tích” đồng thời xử lý đối với vật chứng và phần trách nhiệm dân sự. Đối với Trần Văn P do sắp hết thời hạn điều tra chưa làm rõ được hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Sau khi vụ việc xảy ra, Trần Văn P đã rời khỏi địa p đi làm ăn xa. Đến ngày 23/4/2018, P bị tai nạn giao thông nặng nên sau khi được điều trị tại bệnh viện một thời gian thì P được đưa về nhà ở thôn T, huyện Y, tỉnh Nam Định để chăm sóc,điều trị. Sau một thời gian điều tri, ngày 10/8/2018, sức khỏe tạm ổn định nên Trần Văn P đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Nam Định để đầu thú. Trên cơ sở tài liệu điều tra thu thập được nên ngày 22/8/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Nam Định đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Văn P. Tại cơ quan điều tra, Trần Văn P đã khai nhận hành vi dùng chân đạp một cái vào người làm anh Trần Văn T ngã xuống mương như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: ông Hoàng Văn M là người đại diện theo ủy quyền của chị Hoàng Thị N (vợ anh T) và bà Hoàng Thị X không yêu cầu Trần Văn P phải bồi thường dân sự.

Về vật chứng của vụ án: đã được giải quyết tại phiên toà xét xử Trần Văn Ph, Trần Văn Th4, Trần Văn S, Trần Văn Th5.

Tại Bản cáo trạng số 72/CT-VKSND-P2 ngày 19/10/2018, phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố: Trần Văn P về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 BLHS 1999.

Tại phiên toà:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và trình bày: Sau khi ổn định sức khỏe bị cáo cùng gia đình đã xuống nhà người bị hại thắp hương xin lỗi và tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, đại diện người bị hại ông Hoàng Văn M đã nhận tiền, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định xét thấy bị cáo tham gia phạm tội với vai trò giúp sức xếp ở vị trí cuối cùng trong vụ án. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự lần đầu phạm tội bị đưa ra xét xử; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự nguyện sửa chữa, bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo có đủ điều kiện để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho cải tạo ở địa phương. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: bị cáo Trần Văn P phạm tội “cố ý gây thương tích”. Áp dụng Khoản 3 Điều 104, điểm b, s khoản 1; Khoản 2 Điều51; khoản 2 Điều 54; Điều 58 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt: Trần Văn P từ 27 năm đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Lời khai nhận của bị cáo: Trần Văn P phù hợp với các tài chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người; Biên bản thu giữ vật chứng; Bản kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng; lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16h30' ngày 02/10/2017, tại khu vực cánh đồng Son thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định khi biết anh Trần Văn T là người bắt trộm chó, Trần Văn Ph, Trần Văn Th4, Trần Văn Th5, Trần Văn S và nhiều người dân thôn T đã xông vào dùng chân tay đánh liên tiếp vào người anh T. Trần Văn P cũng xông vào dùng chân phải đạp mạnh một cái vào vùng lưng anh T làm anh T ngã xuống mương. Hậu quả: anh T bị đa chấn thương, chấn thương sọ não, dập phổi, mất máu cấp, suy hô hấp dẫn đến tử vong trên đường đi cấp cứu.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâmphạm về thân thể về sức khỏe nhân phẩm, quyền được sống, được bảo vệ tính mạng sức khỏe là những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp và là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ra hậu quả không thể bù đắp được cho gia đình bị hại. Anh T chết để lại gánh nặng rất lớn cho vợ là chị Hoàng Thị N trong việc chăm sóc và nuôi 04 con đang độ tuổi ăn học (cháu lớn sinh năm 2007 cháu nhỏ sinh năm 2017) cùng mẹ già 90 tuổi. Vì vậy, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù theo quy định của pháp luật đối đối các bị cáo, là cần thiết.

Xét vai trò của bị cáo trong vụ án: Bị cáo tham gia phạm tội với vai trò giúp sức, xếp ở vị trí cuối cùng trong vụ án thể hiện do bức xúc về việc gia đình đã nhiều lần bị mất trộm chó nên khi nghe mọi người nói anh T là đối tượng trộm chó liền xông vào đạp mạnh 01 cái vào vùng lưng anh T khi anh T không còn khả năng tự vệ làm anh T bị ngã xuống mương. Tuy nhiên, anh T chết do bị đa chấn thương do nhiều người khác tham gia đánh anh T, do đó không thể quy kết cái chết của anh T hoàn toàn là do hành vi phạm tội của 04 bị cáo đã bị đưa ra xét xử và bị cáo P gây ra song bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm hình sự để đảm bảo sự công bằng của pháp luật và đảm bảo nguyên tắc cơ bản của luật hình sự là mọi hành vi phạm tội đều được xử lý.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và áp dụng luật: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự mình cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện người bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo ra đầu thú, được người được ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của người bị hại đề nghị giảm hình phạt đối với bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử thấy bị cáo có đủ điều kiện để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 BLHS năm 2015 và xem xét áp dụng Điều 65 BLHS năm 2015 cho bị cáo được hưởng án treo để được lao động cải tạo tại địa p thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Theo quy định của BLHS năm 2015 thì khoản 4 Điều 134 về tội “Cố ý gây thương tích” có mức hình phạt từ 07 năm đến 14 năm, nhưng theo quy đinh tại khoản 3 Điều 104 về tội “Cố ý gây thương tích” của BLHS năm 1999 có mức hình phạt từ 05 năm đến 15 năm, trong khi hành vi phạm tội của các bị cáo đều được thực hiện khi BLHS năm 1999 đang có hiệu lực thi hành. Vì vậy, căn cứ Nghị quyết 41/2017/NQ-QH ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành BLHS năm 2015 sửa đổi năm 2017; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc có lợi cho các bị cáo nên áp dụng khoản 3 Điều 104 về tội “Cố ý gây thương tích” của Bộ luật hình sự năm 1999 để xử phạt đối với các bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường ông Hoàng Văn Minh người được đại diện người bị hại ủy quyền đã nhận, không có yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin xét xử vắng mặt được HĐXX chấp nhận.

 [5] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự: bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn P phạm tội “cố ý gây thương tích” . Căn cứ khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và khoản 2 Điều 54, Điều 58 BLHS năm 2015. Nghịquyết số 41/NQ-QH ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành BLHS năm 2015sửa đổi năm 2017; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Trần Văn P 27 (hai bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (năm tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Trần Văn P cho Ủy ban nhân dân xã Y huyện Y giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Theo Điều 10 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 quy định: “Người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ thi hành án từ 2 lần trở lên có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm) đồng án phí hình sự sơthẩm.

Báo bị cáo Trần Văn P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Hoàng Thị N, bà Hoàng Thị X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


54
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về