Bản án 84/2017/HSST ngày 26/12/2017 về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 84/2017/HSST NGÀY 26/12/2017 VỀ TỘI MUA  BÁN VÀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 26 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Tòa án nhân dân huyện Yên Thành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 84/2017/HSST, ngày 14 tháng 11 năm 2017, đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Phạm Công L(tên gọi khác: không), sinh ngày 10/10/1964. Nơi ĐKHKTT: xóm Q, xã Kh, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Trình độ văn hóa: mù chữ. Nghề nghiệp: làm ruộng. Con ông: Phạm Công Qu(chết) và bà Phan Thị

E(chết). Vợ: Nguyễn Thị X - sinh năm 1969: Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Năm 1990, bị Toàn án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù giam. Ngày 01/01/1992, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xử phạt 36 tháng tù giam. Bản án số 11/HSST ngày 29/5/2000, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xử phạt 15 tháng tù giam về "Tội trộm cắp tài sản". Bản án số 26/HSST ngày 21/3/2004, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xử phạt 30 tháng tù về "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy". Bản án số 48/HSST ngày 30/11/2010 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xử phạt 18 tháng tù giam. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2017 cho đến nay.(Có mặt tại phiên tòa)

2, Họ và tên: Đỗ Đức H(tên gọi khác: không), sinh ngày 02/06/1980. Nơi ĐKHKTT: khu phố 1, phường X, quận Th, thành phố Hà Nội. Chổ ở hiện nay: xóm 6, xã L, huyện Y, Nghệ An. Trình độ văn hóa: 7/12. Nghề nghiệp: làm ruộng. Con ông: Đỗ Đức K(chết).Con bà: Phạm Thị H - sinh năm 1949. Vợ: Nguyễn Thị H - sinh năm 1980. Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không. Đặc điểm nhân thân: Ngày 24/11/1998 sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an huyện Thanh Trì xử phạt hành chính 100.000 đồng. Ngày 7/5/1999 tàng trữ trái phép chất ma túy bị Công an huyện Thanh Trì xử phạt hành chính.  Ngày 29/11/2001, đối tượng đi cai nghiện tập trung 12 tháng; Ngày 28/8/2003 tàng trữ trái phép chất ma túy bị Công an quận Hai Bà Trưng xử phạt hành chính 100.000 đồng; Ngày7/12/2003 sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an quận Cầu Giấy chuyển Viện kiểm sát đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra số 16 ngày 16/01/2004; Ngày 6/5/2005, có biểu hiện trộm cắp tài sản bị Công an quận Thanh Xuân đưa vào diện đối tượng sưu tra, sau đó loại khỏi diện sưu tra. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2017 cho đến nay.(Có mặt tại phiên tòa).

3, Họ và tên: Nguyễn Bá D(Tên gọi khác:không), sinh ngày 28/06/1996; Nơi ĐKHKTT: xóm 3, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: làm ruộng; Con ông: Nguyễn Bá Ch - sinh năm 1971. Con bà: Nguyễn Thị T - sinh năm 1973; Vợ: Trần Thị D - sinh năm 1997. Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2017 cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11/8/2017, tại Cầu Th, thuộc xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Bá D gặp Đỗ Đức H là người ở cùng xã L với nhau, cả hai đều nghiện ma túy. Tại đây D nhờ  H mua hộ 500.000đ  ma túy (Hêrôin) để đưa về sử dụng, H nhận lời, cầm tiền của D đi đến nhà Phạm Công L ở xóm Q, xã Kh, huyện Y, tỉnh Nghệ An mua của L 500.000 đồng ma túy (Hêrôin), L nhất trí bán, đã nhận tiền của H và đi xuống nhà ngang lấy 01 cục Hê rôin, vỏ ngoài bọc bằng giấy kim tuyến có màu trắng đưa lên cho H. H cầm hê rô in về cho D. D trích ra cho H một ít để  H sử dụng, số còn lại để ở trong mũ đội trên đầu để đưa về nhà sử dụng thì bị lực lượng công an huyện Yên Thành Phát hiện bắt giữ vào lúc 10 giờ 20 phút cùng ngày thu giữ 0,165 gam ma túy nghi là Hêrôin. Đến 10 giờ 45 phút ngày 11/8/2017, Đỗ Đức H đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đầu thú về hành vi mua hộ ma túy cho Nguyễn Bá D. Khoảng 12 giờ ngày 11/8/2017 công an huyện Yên Thành đã tiến hành bắt khẩn cấp đối với Phạm Công L khám xét, thu giữ  nơi nhà ở của Phạm Công L 0,15 gam ma túy nghi Hêrôin.Toàn bộ vật chứng thu của Phạm Công L và Nguyễn Bá D đã lấy mẫu trưng cầu giám định và được kết luận là hê rô in. Sau khi lấy mẫu để giám định thì số ma túy thu của Phạm Công L không còn, chỉ còn vỏ đựng chất ma túy, số ma túy thu của Nguyễn Bá D sau khi lấy 0,1 gam để trưng cầu giám định số Hê rô in còn lại của Nguyễn Bá D đã được chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý theo qui định.

Cáo trạng số: 94/VKS -HS ngày 11/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố bị cáo Phạm Công L về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 điều 194 của Bộ luật hình sự. Truy tố Nguyễn Bá D và Đỗ Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 194 của Bộ luật sinh sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Công L từ 30 đến 36 tháng tù.

Áp dụng  khoản 1 điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm p khoản 1 điều 46 của BLHS; khoản 3, điều 7 của BLHS năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và qui định tại khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đỗ Đức H từ 15 đến 18 tháng tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá D từ 12 đến 15 tháng.

Do điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

-Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại của Nguyễn Bá D và 01 phong bì thư đựng ma túy của Phạm Công L.

- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Công L, Đỗ Đức H, Nguyễn Bá D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Phần tranh luận, các bị cáo không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Bá D, Đỗ Đức H và Phạm Công L khai: Nguyễn Bá D là đối tượng nghiện ma túy nên cần có ma túy để đưa về nhà sử dụng khi cần thiết. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11/8/2017 thì D gặp Đỗ Đức H cũng là đối tượng nghiện ma túy tại Cầu Th, xã L, huyện Y, Nghệ An tại đây D đã nhờ H đi mua ma túy (Hêrôin) để đưa về sử dụng, D hứa cho H một ít để H sử dụng. H đồng ý cầm 500.000 đ của D đi đến nhà Phạm Công L tại xóm Q, xã Kh, huyện Y  hỏi L mua  Hê rô in để đưa về cho D. Tại nhà riêng của L, L đã bán cho H 500.000đ Hêrôin . Mua xong H đưa về cho D, D đã trích cho H một ít, số còn lại D để vào mũ đội lên đầu để đưa về nhà sử dụng, thì bị Công an huyện Yên Thành phát hiện bắt giữ người cùng tang vật là 01 gói ma túy có trọng lượng 0,165 gam. Sau khi D bị bắt thì Đỗ Đức H đã đến Công an huyện Yên Thành đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình. Khoảng 12 giờ cùng ngày Công an huyện Yên Thành đã tiến hành lệnh bắt khẩn cấp và khám xét nơi ở của Phạm Công L đã thu giữ của Lục một gói 0,15gam ma túy. Số ma túy thu của Nguyễn Bá D và Phạm Công L được giám định kết luận là Hê rô in.

Trên cơ sở lời khai của các bị cáo, vật chứng thu giữ, kết luận giám định chất ma túy của phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ căn cứ kết luận Phạm Công L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, Đỗ Đức H và Nguyễn Bá D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Do trọng lượng các chất ma túy thu của Phạm Công L 0,15gam, Nguyễn Bá D là 0,165 gam cho nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo theo khoản 1 điều 194 của Bộ luật hình sự là đúng mức.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là  án nghiêm trọng, việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Công L và hành vi Tàng trữ chất ma túy của bị cáo Nguyễn Bá D và Đỗ Đức H là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chắc chắn hiểu được tác hại của ma túy, mà nhà nước cấm sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ. Tuy biết như vậy nhưng  do mục đích tư lợi và phục vụ việc nghiện ngập, nên các bị cáo đã bất chấp pháp luật đã mua bán, tàng  trữ trái phép chất ma túy, nên phải trả giá bằng việc trừng trị của pháp luật. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm  tội do các bị cáo đã gây ra thấy rằng cần xử lý các bị cáo với hình phạt nghiêm minh, có tính giáo giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Vụ án có 3 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong đó bị cáo D, bị cáo H đồng phạm với nhau về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Nhân thân và mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo khác nhau nên cần phân hóa cho phù hợp.

Đối với Phạm Công L ngoài gói ma túy (Hê rô in) bán cho Đỗ Đức H, qua khám xét nơi ở còn thu được 0,15 gam ma túy ( Hê rô in) mà Lục cất dấu tại nhà để bán cho người khác khi có nhu cầu. Qua đó cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất nguy hiểm, xem thường kỷ cương pháp luật của nhà nước. Ngoài ra nhân thân của bị cáo  rất xấu  đã bị xét xử nhiều lần với các tội danh khác nhau. Từ đó cho thấy bị cáo là một con người khó giáo dục, cải tạo, không có ý thức cải tạo thành người có ích cho xã hội và gia đình. Do vậy cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật, có thời gian suy ngẫm cố gắng cải tạo, từ bỏ con đường phạm tội. Tuy nhiên xét thấy rằng quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo rất thành khẩn khai báo, do vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Đối với bị cáo Đỗ Đức H thực hiện hành vi mua hộ ma túy cho Nguyễn Bá D, mục đích của bị cáo là mua hộ cho Nguyễn Bá D là để hưởng lợi một ít ma túy do Nguyễn Bá D cho, bị cáo đồng phạm với Nguyễn Bá D với vai trò giúp sức, việc mua hộ ma túy cho người khác là tiếp tay cho người khác vi phạm pháp luật, gây mất trật tự, ảnh hưởng trị an xã hội. Lý lịch nhân thân của bị cáo xấu, bị cáo đã nhiều lần đã bị cơ quan chức năng xử lý hành chính về nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác nhau, đã có lần buộc phải đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc. Do vậy cần  phải xử lý bị cáo với hình phạt nghiêm minh với hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương ứng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo. Tuy nhiên xét thấy rằng quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối lỗi, sau khi phạm tội đã đến cơ quan đầu thú. Vì vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào lúc lượng hình để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Đối với Nguyễn Bá D là đối tượng nghiệm ma túy, mục đích của bị cáo nhờ Đỗ Đức H mua ma túy cho mình là để sử dụng khi cần thiết. Hành vi của bị cáo cũng cần được xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian với hình phạt nghiêm minh mục đích răn đe giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy rằng quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo tỏ thái độ ăn năn hối cải, so với các bị cáo trên thì bị cáo có nhân thân, lý lịch rõ ràng trong sáng rõ ràng hơn.Vì vậy cầm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.

- Hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nhưng  xét điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

Theo qui định tại khoản 1 điều 249 của BLHS năm 2015 qui định về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy có mức hình phạt từ  01 đến 05 năm tù nhẹ hơn so với mức hình phạt qui định tại khoản 1 điều 194 của BLHS năm 1999 có mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm. Theo qui định tại khoản 3, điều 7 BLHS năm 2015 và Nghị quyết của Quốc hội số: 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 thì điều luật nhẹ hơn được áp dụng có lợi cho bị cáo đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật có hiệu lực thi hành. Do vậy cần áp dụng hình phạt qui định tại  khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015  để xử lý đối với  bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Bá D.

- Về xử lý vật chứng: Số lượng ma túy thu của Phạm Công L và Nguyễn Bá D, sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định, số còn lại hiện nay đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý. Đây là mặt hàng cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy như quy định tại điểm a khoản 2 điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo: Phạm Công L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, Nguyễn Bá D, Đỗ Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ  khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

- Xử Phạt: Bị cáo Phạm Công L 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo(ngày 11/8/2017).

Căn cứ  khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

- Xử Phạt: Bị cáo Đỗ Đức H 01(một) năm 02(hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo(ngày 11/8/2017).

Căn cứ khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

- Xử Phạt: Bị cáo Nguyễn Bá D 01(Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo(ngày 11/8/2017).

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 điều 76 của bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 0,065 gam Hêrôin được đựng trong phong bì thư bưu điện (thu của Nguyễn Bá D) và 01 võ phong bì thư đựng hê rô in (thu của Phạm Công L). Vật chứng hiện đang do Chi Cục THADS huyện Yên Thành quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra

Công an huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An ngày 03/11/2017 và phiếu nhập kho số: NK11 ngày 03/11/2017).

- Về án phí: Căn cứ vào điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Công L, Đỗ Đức H, Nguyễn Bá D mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo lên toà án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về