Bản án 83/2019/HS-ST ngày 27/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 83/2019/HS-ST NGÀY 27/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 3 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Như Q (tên gọi khác: Nguyễn Thị Q) - sinh năm 1975 tại: Thành phố Đ, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số 56/50/207 đường L, phường X, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Trần Thị V; có chồng Trần Trung K và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19-8-2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Ngày 20-02-2016 bị Công an phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”, Ngày 05-3-2016 bị Công an phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Ngày 19-02-2017 bị Công an phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”, Ngày 27-02-2017 bị Công an phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Ngày 23-01-2019 bị Công an thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giam từ ngày 04-01-2019 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Thị Thanh H - sinh năm 1998, trú tại: Số 88H, ô A, phường L, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Như Q là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm nên thường xuyên đi lang thang tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 05 giờ ngày 21-12-2018, Q đi bộ đến Bệnh viện đa khoa G tại số 80 đường A, phường V, thành phố Đ. Q lên tầng 4 thì thấy phòng số 5 cạnh cầu thang không đóng cửa. Quan sát thấy có bốn người đang ngủ, Q vào phòng thấy chị Trần Thị Thanh H là bệnh nhân đang nằm ngủ tại giường. Chị H có để chiếc điện thoại di động Iphone X màu trắng bên cạnh đầu giường. Lợi dụng sơ hở, Q đi đến lấy chiếc điện thoại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Khoảng 07 giờ cùng ngày, Q mang chiếc điện thoại trên đến hiệu cầm đồ của chị Trần Thị T tại số 30 đường B, phường B, thành phố Đ. Q nói với chị T đây là điện thoại của Q và bán cho chị T với giá 1.700.000 đồng. Số tiền này Q đã ăn tiêu hết.

Sau khi sự việc xảy ra, chị Trần Thị Thanh H đã phát hiện và trình báo cơ quan công an. Nhận được đơn trình báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ và triệu tập Nguyễn Như Q làm việc. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Như Q đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã triệu tập chị Trần Thị T để làm việc. Tại cơ quan công an, chị T khai nhận sau khi mua chiếc điện thoại Iphone X của Q, chị T đã đưa điện thoại cho anh Phạm Sỹ A - sinh năm 1980, trú tại: Số 8/183 đường P, phường H, thành phố Đ để sửa chữa.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định triệu tập anh Phạm Sỹ A để làm việc. Tại cơ quan công an, anh A khai nhận đã mang chiếc điện thoại trên đến cửa hàng của anh Trần Ngọc H - sinh năm 1981, trú tại: Số 350 đường B, phường B, thành phố Đ để sửa chữa. Sau đó, anh A đã bán chiếc điện thoại trên cho anh H với giá 8.000.000 đồng. Sau khi biết chiếc điện thoại trên là vật chứng của vụ án, anh Trần Ngọc H đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an. Anh A đã trả lại cho anh H số tiền 8.000.000 đồng. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nam Định đã tiến hành định giá và kết luận: Chiếc điện thoại di động IphoneX có trị giá 10.500.000 đồng. Sau khi định giá, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho người bị hại là chị Trần Thị Thanh H. Chị Trần Thị Thanh H đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác.

Đối với chị Trần Thị T, anh Phạm Sỹ A, anh Trần Ngọc H khi mua và sửa chữa chiếc điện thoại Iphone X của Q không biết nguồn gốc chiếc điện thoại là do Nguyễn Như Q trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập vấn đề xử lý. Số tiền chị Trần Thị T mua điện thoại của Nguyễn Như Q là 1.700.000 đồng, hiện Nguyễn Như Q chưa bồi thường trả lại cho chị T. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra, chị T có quan điểm không yêu cầu Nguyễn Như Q bồi thường số tiền trên; anh A, anh H không có yêu cầu bồi thường gì khác nên vấn đề dân sự đã được giải quyết xong.

Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn làm rõ: Vào ngày 03-01-2019, tại ngã tư đường T - Đ, thành phố Đ, Nguyễn Như Q đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Samsung Grand Prim có trị giá 600.000 đồng của chị Trần Thị L - sinh năm 1975, trú tại: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Nam Định. Xét hành vi trên của Nguyễn Như Q chưa cấu thành tội phạm nên ngày 23-01-2019 Công an thành phố Nam Định đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Như Q.

Bản cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 27-02-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Như Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Như Q tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Phạt bị cáo Nguyễn Như Q từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù; miễn phạt tiền.

Bị cáo Nguyễn Như Q nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Như Q; bị hại là chị Trần Thị Thanh H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Như Q phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 05 giờ ngày 21-12-2018, tại Bệnh viện đa khoa G số 80 đường A, phường V, thành phố Đ, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Iphone X của chị Trần Thị Thanh H có trị giá 10.500.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có trị giá 10.500.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Như Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt: Xét bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, đã được giáo dục nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bản chất coi thường pháp luật, tuy nhiên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có công việc ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại bị hại, bị hại là chị Trần Thị Thanh H đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị T, anh Phạm Sỹ A, anh Trần Ngọc H không có đề nghị gì nên phần bồi thường dân sự đã giải quyết xong.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Như Q bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Q (tên gọi khác: Nguyễn Thị Q) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-01-2019.

2. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Bị cáo Nguyễn Như Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Như Q được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là chị Trần Thị Thanh H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2019/HS-ST ngày 27/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:83/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về