Bản án 83/2019/HSST ngày 08/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 83/2019/HSST NGÀY 08/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 08 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2019/HSST ngày 17/4/2019; theo Quyết định đưa ra xét xử sơ thẩm số 99/2019/QĐXX-ST ngày 23/4/2019 đối với bị cáo:

Trịnh Văn L, sinh năm: 1996; Nơi sinh: Nam Định; HKTT và chỗ ở: Thôn Nhân Trạch, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12 ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trịnh Văn Đài, sinh năm 1971 và con bà: Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1969; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Nguyễn Thị Hương Giang, sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 079 ngày 03/1/2019 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có 01 tiền án, 01 tiền sự

- Bản án số 20/HSST ngày 25/3/2015 - Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hạn tù tính từ ngày 13/01/2015. Ra trại ngày 13/01/2016. Nộp án phí ngày 01/7/2015 nhưng chưa bồi thường dân sự (BL 41A) (chưa xóa án).

- Năm 2012, đi trường giáo dưỡng từ ngày 11/9/2012 đến tháng 8/2013.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/01/2019. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16h15’ ngày 01/01/2019, tại khu vực đê Giang Biên, phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội, Tổ công tác Công an phường Thượng Thanh phát hiện bắt quả tang Trịnh Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của L gồm: 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ L khai là ma túy heroin mua về sử dụng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Trịnh Văn L khai nhận: Khoảng 13h00 ngày 01/01/2019 L ngồi uống nước ở khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh thì có một nam thanh niên không quen biết khoảng 30 tuổi đi xe máy Arblade màu đỏ đến làm quen rồi rủ L góp chung tiền mua ma túy để sử dụng. Lúc này trong người L có 26.000 đồng. L liền đồng ý và đưa cho anh ta số tiền đó để góp chung tiền mua ma túy. Nam thanh niên cầm tiền rồi phóng xe đi mua ma túy. Khoảng 10 phút sau nam thanh niên đó quay lại và chở L đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến 01 khu đô thị ở gần cầu Đuống, L cùng nam thanh niên trên đã cùng nhau sử dụng hết một phần của gói ma túy mua được, số ma túy còn lại anh ta tiếp tục bọc vào gói giấy bạc và cất vào trong 01 bao thuốc lá Thăng Long. Cả hai tiếp tục đi đến một quán nước ở tổ 1, phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội thì anh ta bảo L ngồi đợi để anh ta đi mua xi lanh về sử dụng ma túy tiếp, đồng thời đưa bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa gói ma túy cho L cầm. L cầm bao thuốc lá Thăng Long chứa gói ma túy ở tay phải rồi đi vào quán nước. Sau đó L bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Tại Bản kết luận giám định số 177 ngày 08/01/2019 của phòng KTHS - CATP Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma tuý loại Heroin, khối lượng: 0,199 gam (BL 32).

Đối với nam thanh niên chung tiền mua ma túy sử dụng cùng L, do L khai không biết gì về nhân thân lai lịch, không nhớ BKS xe máy của anh ta. Vì vậy cơ quan điều tra chưa có điều kiện làm rõ.

Bản cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 12/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Trịnh Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trịnh Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa như sau: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã xác định: Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu có 01 tiền sự và 01 tiền án chưa được xóa án tích. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Văn L mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long trong đó có gói giấy bạc chứa 0,199 gam heroin thu giữ của bị cáo.

Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; bản tự khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16h15’ ngày 01/01/2019, tại khu vực đê Giang Biên, phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội, Trịnh Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,199 gam ma túy loại heroin mục đích để sử dụng, đã bị Tổ công tác Công an phường Thượng Thanh, quận Long Biên phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Trịnh Văn L về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo Trịnh Văn L khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Cho tịch thu, tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long trong đó có 1 gói giấy bạc chứa 0,199g heroin thu giữ của bị cáo.

Đề nghị xử lý vật chứng của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xủ.

Đối với nam thanh niên chung tiền mua ma túy sử dụng cùng L, do L khai không biết gì về nhân thân lai lịch, không nhớ BKS xe máy. Vì vậy cơ quan điều tra chưa có điều kiện làm rõ nên Hội đồng xét xử thống nhất với cơ quan điều tra khi nào làm rõ sẽ sử lý sau.

[9] Về án phí: Bị cáo Trịnh Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn L 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2019.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Cho tịch thu, tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long trong có 1 gói giấy bạc chứa 0,199g heroin thu giữ của bị cáo. (Hiện đang lưu giữ tại Kho tang vật Công an quận Long Biên theo Phiếu nhập vật chứng ngày 16/2/2019).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2019/HSST ngày 08/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:83/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Long Biên - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về