Bản án 83/2018/HS-ST ngày 13/06/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 83/2018/HS-ST NGÀY 13/06/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Chu Văn T, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1973 tại tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; tạm trú tại: Đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 0/10; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn B, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1955; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 14/3/2018, tạm giam từ ngày 17/3/2018 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Chị Hà Thu H, sinh năm 1995

Nơi cư trú: Đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Triệu Thành H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 14/3/2018, tại khu vực sân đền T thuộc đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Chu Văn T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 6s plus của chị Hà Thu H.

Tại biên bản định giá tài sản tố tụng hình sự số 47/ĐGTSTT của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố Lạng Sơn xác định chiếc điện thoại Iphone 6s Plus mà Chu Văn T trộm cắp của chị Hà Thu H có giá trị 6.400.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 91/KSĐT ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, đã quyết định truy tố bị cáo Chu Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn để xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Chu Văn T khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/3/2018, bị cáo đi từ đường N, phường T, thành phố L đến đền T để xem lễ hội. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang đứng trước cửa đền T, bị cáo nhìn thấy chị Hà Thu H đeo túi xách màu đen bên vai trái, miệng túi không khóa, bên trong có 01 chiếc điện thoại Iphone 6s plus màu vàng, ốp trắng, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại để sử dụng. Bị cáo liền đi đến, dùng tay phải lấy chiếc điện thoại. Khi bị cáo vừa lấy được chiếc điện thoại thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị hại chị Hà Thu H vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, tại các bản tự khai và biên bản ghi lời khai tại Cơ quan điều tra, chị Hà Thu H khai: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 14/3/2018, chị đứng trước cửa đền T xem lễ hội thì phát hiện 01 người đàn ông thò tay vào túi xách màu đen của chị đeo bên vai trái lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s plus. Sau đó, chị hô lên "trộm" thì Công an đến bắt giữ người đàn ông này. Sau này, chị mới biết người đàn ông này tên là Chu Văn T. Trong quá trình điều tra, chị đã được cơ quan điều tra trả lại điện thoại nên chị không yêu cầu bị cáo bồi thường, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng anh Triệu Thành H vắng mặt tại phiên tòa. Tại các bản tự khai và biên bản ghi lời khai tại cơ quan điều tra, anh Triệu Thành H khai: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 14/3/2018, khi đang xem lễ hội trước sân đền Tả Phủ thì anh thấy 01 người phụ nữ đeo túi xách màu đen hô lên "trộm". Sau đó, Công an tiến hành bắt giữ người đàn ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Chu Văn T từ 06 đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Về vật chứng: Xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại chị Hà Thu H 01 điện thoại di động Ipone 6s plus. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo Chu Văn T tại phiên tòa, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản định giá tài sản tố tụng hình sự, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 14/3/2018, bị cáo Chu Văn T đã có hành vi trộm cắp của chị Hà Thu H 01 điện thoại di động Iphone 6s plus có giá trị 6.400.000 đồng. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.

 [3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân và tạo dư luận không tốt trên địa bàn. Do đó, hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

 [4] Về nhân thân: Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe và khả năng lao động nhưng vì lòng tham nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân. Do bị cáo không biết chữ nên nhận thức hạn chế. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

 [5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo tốt. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [7] Xét lời luận tội và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s plus mà bị cáo trộm cắp của chị Hà Thu H đã được cơ quan điều tra trả lại cho chị Hà Thu H. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về bồi thường dân sự: Tại phiên tòa, bị hại chị Hà Thu H có đơn xin vắng mặt. Tuy nhiên trong bản tự khai, biên bản ghi lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản trả lại tài sản lập ngày 16/3/2018 và đơn xin xét xử vắng mặt, chị Hà Thu H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó, hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Phạt bị cáo Chu Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/3/2018.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Chu Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

139
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2018/HS-ST ngày 13/06/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:83/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về