Bản án 83/2018/HNGĐ-ST ngày 18/09/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 83/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/09/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 18 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã TU tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 306/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2018 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/8/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1987; địa chỉ: Nhà trọ Thanh Hương, khu phố A, phường L, thị xã B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Mai Văn Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Nhà trọ Tr, ấp 5, xã VĩnhTân, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Mai Văn Đ tự nguyện tìm hiểu nhau được gần 01 năm thì tự nguyện kết hôn được cha mẹ hai bên đồng ý. Ông bà Đ ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 80/2011, quyển số 01, ngày 05/12/2011.

Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đ thay đổi không chăm lo cho gia đình. Vợ chống bất đồng quan điểm sống và thương xuyên cãi vã nhau các vấn đề trong gia đình. Vì muốn có cuộc sống gia đình hạnh phúc, con còn nhỏ cần được sự chăm sóc của cả bố và mẹ nên bà L đã nhiều lần cố gắng hòa giải mâu thuẫn nhưng không thành. Vợ chồng không thể sống chung với nhau được nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Từ khi sống ly thân, vợ chồng không ai quan tâm chăm sóc cho nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông Mai Văn Đ.

- Về con chung: Bà L và ông Đ có một người con chung tên Mai Thị E, sinh ngày 16/01/2012. Bà Nguyễn Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Mai Thị E, yêu cầu ông Mai Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu chứng cứ sau:

+ Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn;

+ Trích lục giấy khai sinh mang tên Mai Thị E;

+ Bản photo chứng minh nhân dân Mai Văn Đ và bản sao Nguyễn Thị L;

+ Bản sao sổ hộ khẩu mang tên Mai Văn Đ và bản photo Nguyễn Thị L.

Bị đơn ông Mai Văn Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Theo biên bản xác minh ngày 30/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân, thị xã TU, tỉnh Bình Dương thì ông Mai Văn Đ có sinh sống và Đ ký tạm trú tại địa chỉ: Nhà trọ Tr, ấp 5, xã Vĩnh Tân, thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Về mâu thuẫn của vợchồng cũng như yêu cầu nuôi con chung thì đại diện chính quyền địa phương không nhận được tin báo hay đơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn của đương sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU phát biểu tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã TU.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị L và ông Mai Văn Đ tự nguyện kết hôn có Đ ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 80/2011, quyển số 01, ngày 05/12/2011. Nguyên nhân bà L yêu cầu ly hôn là do ông Đ không chăm lo cho gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên bà L yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Bà L yêu cầu được quyền nuôi con và yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng là phù hợp quy định pháp luật; về tài sản chung, nợ chung bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát,

 [1]. Về quan hệ pháp luật và Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Mai Văn Đ và yêu cầu được quyền nuôi con sau khi ly hôn nên đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Ông Mai Văn Đ Đ ký thường trú tại địa chỉ:Ấp 5, xã Vĩnh Tân, thị xã TU, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã TU theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [2]. Về tố tụng: Ông Mai Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 27/7/2018 và 13/8/2018 nhưng ông Đ vắng mặt không lý do. Tòa án triệu tập hợp lệ ông Mai Văn Đ tham gia phiên tòa ngày 30/8/2018 nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Tòa án triệu tập ông Đ tham gia phiên tòa vào ngày 18/9/2018 nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do là ông Đ đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình tại Tòa án. Bà Nguyễn Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà L. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt bà L và ông Đ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Mai Văn Đ là những người đủ điều kiện kết hôn; chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu để tiến tới hôn nhân; có Đ ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 80/2011, quyển số 01, ngày 05/12/2011, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Tình cảm vợ chồng không còn, ông bà không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu Tòa án giảiquyết ly hôn.

Ông Mai Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, điều này cho thấy ông Đ hoàn toàn không có thiện chí để Tòa án hòa giải vợ chồng đoàn tụ cùng nhau xây dựng gia đình. Xét, mâu thuẫn giữa bà L và ông Đ đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Nguyễn Thị L yêu cầu ly hôn với ông Mai Văn Đ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

 [4]. Về con chung: Bà L và ông Đ có con chung tên Mai Thị E, sinh ngày 16/01/2012. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Mai Thị E vì hiện tại cháu Hồng đang sống chung với bà L. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con” nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [4]. Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Bà L yêu cầu ông Mai Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình “2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Do đó, bà L yêu cầu ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi là có căn cứ chấp nhận.

 [6]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

 [7]. Xét, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiền tòa là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật.

 [8]. Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

 [9]. Về án phí cấp dưỡng định kỳ: Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với ông Mai Văn Đ như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Mai Văn Đ.

- Về con chung: Giao con chung tên Mai Thị E, sinh ngày 16/01/2012 cho bà Nguyễn Thị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Mai Văn Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng đến khi conchung đủ 18 tuổi.

Bà Nguyễn Thị L và ông Mai Văn Đ đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Ông Đ được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Đ lạm dụng quyền đi lại thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Đ. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

2. Về án phí:

Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0014141, ngày 04/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TU.

Án phí cấp dưỡng định kỳ: Ông Mai Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L và ông Mai Văn Đ vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

52
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2018/HNGĐ-ST ngày 18/09/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:83/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về