Bản án 82/2019/HSST ngày 08/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 82/2019/HSST NGÀY 08/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 8 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66/2019/HSST ngày 01 tháng 02 năm 2019 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2019/QĐXXST-HS ngày 11/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐ-HPT ngày 25/4/2019 đối với bị cáo:

Lưu Văn D, sinh năm 1970; HKTT: XX Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Tổ X, phường Gia Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 10/12; Nghề Nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lưu Văn Quý (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1942; Vợ: Đỗ Thu H, sinh năm 1973; Có 02 con (Lớn SN 1993, nhỏ SN 1995).

Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 054 ngày 23/12/2018 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có: 03 tiền sự, 03 tiền án.

- Năm 1990 Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, công an huyện Gia Lâm xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo.

- Năm 1990 Trộm cắp tài sản, công an huyện Gia Lâm xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo.

- Năm 2007 cai nghiện bắt buộc thời hạn 02 năm, tháng 11/2009 về địa phương.

- Bản án số 59/HSST ngày 18/4/1997, TAND huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, hạn tù tính từ ngày 25/12/1996. Xác minh thi hành án tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, kết quả: Chi cục không có hồ sơ thi hành án của bản án trên. (Bản án này đã được xóa án tích).

- Bản án số 442/1999/HSST ngày 15/4/1999, TAND thành phố Hà Nội xử 11 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 2 điểm b điều 185đ Bộ luật hình sự năm 1985. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/1998. Ra trại ngày 30/8/2005.Ngoài ra bản án còn tuyên bị cáo D phải nộp 20 triệu đồng để sung công quỹ nhà nước. Xác minh thi hành án tại Chi cụ thi hành án dân sự TP Hà Nội kết quả thể hiện: Không có hồ sơ thi hành án của bản án trên. (Bản án này đã được xóa án tích)

- Bản án số 249/2012/HSST ngày 24/7/2012, TAND quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử 32 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2012. Ra trại ngày 19/9/2014. Đã nộp án phí theo biên lai số 2330 ngày 24/7/2012. (Bản án này đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giam 20/12/2018. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Hà M, sinh năm 1996; HKTT: Số 24 ngách 564/55 Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16h00 ngày 20/12/2018, Tổ công tác Công an phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực đường Ngô Gia Khảm, quận Long Biên, Hà Nội, phát hiện tại trước cửa nhà số 10 Ngô Gia Khảm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên có 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Tại chỗ, Tổ công tác đã phát hiện trong tay trái của nam thanh niên có túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. Nam thanh niên tự khai nhận tên Lưu Văn D, sinh năm 1970, HKTT: 132 Lạc Trung phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, gói nilon bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin D vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa đối tượng về trụ sở để làm rõ.

Tang vật thu giữ của Lưu Văn D gồm:

+01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng.

+ 01 xe máy Mio BKS: 29K1-254.52.

+ Số tiền 420.000đ.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Lưu Văn D khai nhận:

Khoảng 14h30’ ngày 20/12/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên D đi xe máy Mio BKS: 29K1- 254.52 ra khu vực quận Hoàng Mai mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, D gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroin hết 700.000đ. Mua được ma túy, D cầm túi ma túy trong tay trái rồi quay về bến xe Gia Lâm để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi D đi đến trước cửa nhà số 10 đường Ngô Gia Khảm, phường Ngọc Lâm, quận Hoàng Mai, Hà Nội thì bị công an kiểm tra phát hiện gói ma túy D vừa mua. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa về trụ sở để làm rõ.

Tại bản kết luận giám định ma túy số 9653 ngày 29/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Heroin, khối lượng: 1,450 gam (BL:27)

Đối với người đàn ông bán ma túy cho D, do D khai không biết nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát Điều tra - Công an quận Long Biên không đủ Điều kiện xác minh làm rõ, khi nào lãm rõ sẽ xử lý sau.

Xác minh chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Mio mang BKS: 29K1- 254.52, SK: 073246, SM: 1073250 đăng ký tên Nguyễn Thị Lâm, sinh năm 1978; HKTT: tổ 4 P. Bồ Đề, quận Log Biên, Hà Nội. Khoảng tháng 10/2014 chị Lâm bán lại xe cho Đỗ Hà M, sinh năm 1996; chỗ ở: Tổ 14 phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội với giá 18.000.000đ. Chị M sử dụng từ đó cho đến ngày 20/12/2018 Lưu Văn D, là chú của chị M, hỏi mượn xe nhưng không nói đi đâu, làm gì và chị M đồng ý cho D mượn xe. Việc D sử dụng chiếc xe đi mua ma túy, chị M không biết. Lời khai của D và M là phù hợp với nhau. Xét thấy việc chị M không biết D sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe cho chị M. Chị M đã nhận lại xe và không có ý kiến gì khác.

Bản cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 29/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Lưu Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lưu Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa như sau: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã xác định: Hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội:

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy, đã có 03 tiền sự, 03 tiền án mặc dù đã được xóa án tích nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Lưu Văn D mức án từ 36 – 42 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: - Đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy 01 túi nilon bên trong có chứa 1,450 gam ma túy loại Heroin thu giữ của bị cáo. Đề nghị cho thi hành trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đã qua sử dụng và số tiền 420.000 đồng của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cho tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; bản tự khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đủ cơ sở kết luận: Hồi 16h00 ngày 20/12/2018, tại khu vực đường Ngô Gia Khảm, quận Long Biên, Hà Nội, Lưu Văn D có hành vi tàng trữ trái phép1,450 gam ma túy loại Heroin mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp không chỉ đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Lưu Văn D về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy, có 03 tiền sự đương nhiên được xóa theo luật định, 03 tiền án mặc dù đã được xóa án tích nhưng trong đó có 02 tiền án về các tội phạm về ma túy.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo Lưu Văn D khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Cho tịch thu, tiêu hủy 01 túi nilon bên trong chứa ma túy loại heroin, có khối lượng: 1,450 gam thu giữ của bị cáo.

- Cho thi hành trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đã qua sử dụng và số tiền 420.000 đồng của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cho tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Do chị Đỗ Hà M không biết bị cáo sử dụng xe máy nhãn hiệu Mio mang BKS: 29K1-254.52, SK: 073246, SM: 1073250 để đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho chị M là có căn cứ, đúng pháp luật. Chị M đã nhận lại xe và không có ý kiến gì khác.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho D, do D khai không biết nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát Điều tra - Công an quận Long Biên không đủ Điều kiện xác minh làm rõ, khi nào lãm rõ sẽ xử lý sau.

[9 ] Về án phí: Bị cáo Lưu Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lưu Văn D 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2018.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 túi nilon bên trong chứa 1,450 gam Heroin thu giữ của bị cáo. (Hiện đang lưu giữ tại Kho tang vật Công an quận Long Biên theo Phiếu nhập vật chứng ngày 16/2/2019).

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đã qua sử dụng và số tiền 420.000 đồng của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cho tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án. (Hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2019 và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/3/2019).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 82/2019/HSST ngày 08/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:82/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Long Biên - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về