Bản án 82/2019/HNGĐ-ST ngày 29/07/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 82/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 277/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ S, sinh năm: 1985; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn B, sinh năm: 1977; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 27/5/2019, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ S trình bày:

Chị và anh Huỳnh Văn B tiến tới hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường hay cự cãi nhau, anh Huỳnh Văn B 1 không có trách nhiệm với gia đình và có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác.

Vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 đến nay.

Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn B.

Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Minh D, sinh ngày 10/02/2012, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn về con chung chị yêu cầu được nuôi, không yêu cầu anh Huỳnh Văn B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 - Bị đơn anh Huỳnh Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Lệ S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, bị đơn anh Huỳnh Văn B cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lệ S và anh Huỳnh Văn B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Chị Nguyễn Thị Lệ S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Lệ S theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Tòa án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn anh Huỳnh Văn B nhưng anh Huỳnh Văn B vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Huỳnh Văn B.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, Chị Nguyễn Thị Lệ S và anh Huỳnh Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25/7/2011 tại Quyển số 01/2011, đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Nguyễn Thị Lệ S đề nghị Tòa án cho ly hôn vì cho rằng trong quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường hay cự cãi nhau, anh Huỳnh Văn B không có trách nhiệm với gia đình và có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Vợ 2 chồng đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Khi chị Nguyễn Thị Lệ S có đơn xin ly hôn, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án hợp lệ cho anh Huỳnh Văn B nhưng anh Huỳnh Văn B không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Lệ S, tại phiên tòa anh Huỳnh Văn B vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Điều đó đã cho thấy anh Huỳnh Văn B đã không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh và chị Nguyễn Thị Lệ S. Xét thấy, tình cảm và đời sống chung của vợ chồng của chị Nguyễn Thị Lệ S và anh Huỳnh Văn B đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Lệ S được ly hôn với anh Huỳnh Văn B là phù hợp.

[5] Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Lệ S và anh Huỳnh Văn B có 01 con chung tên Huỳnh Minh D, sinh ngày 10/02/2012 hiện do chị Nguyễn Thị Lệ S đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Lệ S yêu cầu được quyền nuôi con chung, không yêu cầu anh Huỳnh Văn B cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện tại cháu Huỳnh Minh D đang sống cùng chị Nguyễn Thị Lệ S, cuộc sống ổn định, sức khỏe tốt, hiện tại chị Nguyễn Thị Lệ S có công việc thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc tốt con chung. Mặc khác, tại bản tự khai cùng ngày 04/6/2019, cháu Huỳnh Minh D trình bày ý kiến có nguyện vọng được sống cùng chị Nguyễn Thị Lệ S. Đối với anh Huỳnh Văn B từ khi vụ án thụ lý giải quyết cho đến khi xét xử cũng không có nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về thể chất, học hành, sự phát triển về tinh thần, cũng như các quyền lợi khác của con chung nên tiếp tục giao cháu Huỳnh Minh D cho chị Nguyễn Thị Lệ S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Huỳnh Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Lệ S không yêu cầu.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lệ S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lệ S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ 3 luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Lệ S được ly hôn với anh Huỳnh Văn B.

2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Minh D, sinh ngày 10/02/2012 cho chị Nguyễn Thị Lệ S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Huỳnh Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Nguyễn Thị Lệ S không yêu cầu.

Anh Huỳnh Văn B có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lệ S phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 16760 ngày 04/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên xem thi hành xong.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 82/2019/HNGĐ-ST ngày 29/07/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:82/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về