Bản án 82/2018/HNGĐ-ST ngày 09/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 82/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 09 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 351/2018/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: ấp H, xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: ấp H, xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 22/5/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Văn T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1996, nhưng không có đăng ký kết hôn. Hai người chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T thường xuyên nhậu kiếm chuyện chưởi bới chị nên hai người chung sống không có H phúc.

Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là cháu Huỳnh Thị Băng Nhi, sinh ngày 03/4/1997 và cháu Huỳnh Thị Tuyết Mến, sinh ngày 01/01/2004, hiện tại chị và anh T đang nuôi dạy các cháu.

Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn; về con chung và tài sản chung để chị và anh T tự thỏa thuận nuôi dạy con chung và phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 26/6/2018 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Huỳnh Văn T trình bày:

Anh thống nhất với trình bày của chị Trương Thị H về các vấn đề hôn nhân, con chung và tài sản chung. Nay anh không thống nhất ly hôn với chị H; trường hợp anh và chị H ly hôn thì về con chung và tài sản chung để anh và chị H tự thỏa thuận nuôi dạy con chung và phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ, nhưng nguyên đơn chị Trương Thị H và bị đơn anh Huỳnh Văn T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh T.

[2] Về hôn nhân: Chị Trương Thị H và anh Huỳnh Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, kể từ khi chung sống đến nay tuy có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng anh chị không đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn, nên quan hệ hôn nhân của anh chị chưa tuân thủ về đăng ký kết hôn, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, khi có tranh chấp yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và tuyên bố không công nhận vợ chồng. Nay chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T, không công nhận mối quan hệ giữa chị H và anh T là vợ chồng.

[3] Về con chung, tài sản chung: Chị H và anh T thống nhất để tự thỏa thuận với nhau nuôi dạy con chung và phân chia tài sản chung, không ai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 28/5/2018, chị H nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí. Anh T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 14, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận khởi kiện của chị Trương Thị H yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn T.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Trương Thị H và anh Huỳnh Văn T là vợ chồng.

Về án phí: Chị H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 28/5/2018, chị H nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005510 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Trương Thị H và anh Huỳnh Văn T vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 82/2018/HNGĐ-ST ngày 09/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:82/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 09/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về