Bản án 82/2017/HNGĐ-ST ngày 30/08/2017 về tranh chấp ly hôn giữa chị T và anh T

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 82/2017/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN GIỮA CHỊ T VÀ ANH T

Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 283/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2017 về ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2017 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 39/2017/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Hồng T, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Ấp 4, xã L, huyện C, tỉnh Long An. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Đặng Phước T, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Ấp 4, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/6/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phạm Thị Hồng T trình bày: Chị và anh Đặng Phước T cưới nhau vào năm 2013, hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/12/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi cưới, chị về làm dâu bên gia đình chồng khoảng 01 năm thì cất nhà ở riêng. Theo chị vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do t nh tình không hợp, bất đồng về quan đi m sống nên vợ chồng thường hay cải vã, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2017 cho đến nay. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không th tiếp tục chung sống với nhau nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Phước T.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Đặng Ngọc Kỳ D, sinh ngày 10/12/2015. Hiện chị đang nuôi cháu D, khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Không tranh chấp.

Về nợ: Không có.

Tòa án tiến hành lập thủ tục thông báo về phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn anh Đặng Phước T vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng dân sự:

Chị Phạm Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đặng Phước T. Căn cứ khoản 1 Điều 28, đi m a khoản 1 điều 35 và đi m a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Bị đơn anh Đặng Phước T đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đ tham gia vụ án nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

 [2] Về nội dung vụ án:

 [2.1] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Hồng T và anh Đặng Phước T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị T nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do t nh tình không hợp, bất đồng về quan đi m sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2017 cho đến nay nhưng không ai có thiện ch hàn gắn tình cảm nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T. 

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án, chứng tỏ anh T không có thiện ch hàn gắn tình cảm với chị T đ vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không th kéo dài, mục đ ch hôn nhân không đạt được nên việc chị T yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ. Do đó, cần áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

[2.2] Về nuôi con chung: Theo chứng cứ do chị T cung cấp, chị T và anh T có một con chung là cháu Đặng Ngọc Kỳ D, sinh ngày 10/12/2015. Hiện chị T đang nuôi cháu D nên khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, hiện chị T là người trực tiếp nuôi cháu D, anh T không có ý kiến về con chung. Do đó, đ đảm bảo sự phát tri n ổn định, bình thường của cháu, Hội đồng xét xử quyết định cho chị T được tiếp tục nuôi cháu D.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản: không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ: không có.

Do anh T không có văn bản trình bày về tài sản chung và nợ chung, chị T xác định không tranh chấp tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu các đương sự có tranh chấp, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn yêu cầu.

[2.5] Về án ph : Chị Phạm Thị Hồng T phải chịu án ph hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.6] Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Hồng T về việc “Ly hôn” với anh Đặng Phước T. Chị Phạm Thị Hồng T được ly hôn với anh Đặng Phước T.

2. Về nuôi con chung: Chị Phạm Thị Hồng T được tiếp tục nuôi con chung là cháu Đặng Ngọc Kỳ D, sinh ngày 10/12/2015. Anh Đặng Phước T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ch của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Toà án có th thay đổi người nuôi dưỡng cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom đ cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

3. Về án ph : Chị Phạm Thị Hồng T phải nộp 300.000 đồng án ph hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án ph tại biên lai số 0000120 ngày 21/6/2017 của Chi cục T hành án dân sự huyện C.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


109
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 82/2017/HNGĐ-ST ngày 30/08/2017 về tranh chấp ly hôn giữa chị T và anh T

Số hiệu:82/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cần Giuộc - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 30/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về