Bản án 81/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 81/2020/HS-ST NGÀY 30/11/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Diệp Thế H; tên gọi khác: Không, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1983, tại Bình Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu phố *, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Diệp Học Tr và bà Nguyễn Thị Tr; chưa có vợ, con; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10-7-2020 đến ngày 27-7-2020 thay thế Biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Nguyễn Công T; tên gọi khác: Không, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1986, tại Bình Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Th và bà Võ Thị B; có vợ: Trần Thị Hoài V, sinh năm 1986; có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10-7-2020 đến ngày 27-7-2020 thay thế Biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. Phùng Văn M; tên gọi khác: Không, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1984, tại Bình Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng L và bà Lê Thị B; có vợ: Nguyễn Thị H sinh năm 1989; có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10-7-2020 đến ngày 27-7-2020 thay thế Biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.

Người làm chứng: Anh Đào Trí T, sinh năm 1984. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 10-7-2020 tại Kiốt số **, bãi xe B thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Tổ công tác Công an huyện Văn Lãng bắt quả tang Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “xóc đĩa”. Tang vật thu giữ gồm: Số tiền thu trên chiếu bạc là 7.000.000 (bẩy triệu) đồng; 04 quân vị hình tròn, được cắt từ quân bài tú lơ khơ; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 bát con bằng sứ, màu trắng hình tròn và 01 miếng bìa cattong được cắt từ vỏ hộp bia Sài Gòn, mặt sau có chữ viết tay “chẵn”, “lẻ”. Tạm giữ của Diệp Thế H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, số tiền 11.500.000 đồng và 800 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc; tạm giữ của Nguyễn Công T 01 điện thoại di động OPPO A5s và 01 điện thoại OPPO F9; tạm giữ của Phùng Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M, đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa chẵn, lẻ, mỗi ván người cầm cái cầm 01 bát sứ và 01 đĩa sứ úp vào nhau để xóc 04 quân vị được cắt từ quân bài tú lơ khơ, được đặt bên trong chiếc bát, đĩa đó, xóc xong người cầm cái đặt bát xuống bìa cattong đã được ghi chữ viết tay “chẵn”, “lẻ”, sau đó những người đánh bạc đoán kết quả ván đó là chẵn hay lẻ để đặt tiền đánh bạc của mình, khi mọi người đánh bạc đặt tiền xong, người cầm cái mở bát lên để tất cả cùng xem kết quả ván đó là chẵn hay lẻ và xác định thắng hoặc thua. Chẵn, lẻ được xác định trên 04 quân vị nếu 01 mặt trắng, 03 mặt hình là lẻ; nếu 02 mặt trắng 02 mặt hình hoặc 04 mặt trắng, 04 mặt hình là chẵn. Ai đặt tiền ở bên đúng kết quả ván đó là thắng và được người cầm cái trả cho số tiền bằng số tiền đã đặt với tỷ lệ 1 ăn 1. Mỗi ván người cầm cái thu lấy hết số tiền của người đặt ở bên bị thua để trả cho người đặt tiền ở bên thắng theo tỷ lệ 1 ăn 1, nếu còn thừa người cầm cái được hưởng số tiền đó, nếu thiếu thì người cầm cái phải lấy tiền của mình bù vào để trả cho những người đặt tiền ở bên thắng. Khoảng 14 giờ ngày 10-7-2020, sau khi cùng ăn nhậu xong tại Kiốt số **, Nguyễn Công T rủ Diệp Thế H là lái xe cùng Công ty đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa, thì được Diệp Thế H và hai người (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) đồng ý. Sau đó Nguyễn Công T lấy 01 bát sứ và 01 đĩa sứ, còn nam thanh niên khác cắt 04 quân vị từ quân bài tú lơ khơ và 01 tấm bìa catong để làm bàn đặt cược ghi chữ “Chẵn, lẻ”. Quá trình đánh bạc, Diệp Thế H là người cầm cái xóc đĩa cho mọi người tham gia đánh bạc, quá trình đánh thì có Phùng Văn M đến cùng tham gia đánh cùng mọi người. Khi đánh bạc Diệp Thế H bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng để cầm cái đánh bạc cùng mọi người, Nguyễn Công T bỏ số tiền 2.600.000 đồng để đánh bạc, đánh được nhiều ván, mỗi ván đặt cửa từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng; Phùng Văn M bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, đánh được nhiều ván mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, quá trình đánh bạc, thì bị bắt quả tang và thu giữ tang vật liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức “xóc đĩa”.

Tại Kết luận giám định số 293/KLGĐ-PC09 ngày 17-8-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam và Trung Quốc, trong 02 gói niêm phong gửi giám định đều là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 03-11-2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng đã truy tố các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn để xét xử các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, do bột phát, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M phạm tội “Đánh bạc”. Đề nghị xử phạt các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T mức án từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, bị cáo Phùng Văn M mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung đối với bị cáo Diệp Thế H phạt tiền từ 10.000.000 (mười triệu) đến 12.000.000 (mười hai triệu) đồng; các bị cáo Nguyễn Công T, Phùng Văn M không có tài sản gì, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, là hình phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Công T, Phùng Văn M.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu số tiền 7.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước; tịch thu tiêu hủy đối với 04 quân vị, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 01 miếng bìa cattong; trả lại cho bị cáo Diệp Thế H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, số tiền 11.500.000 đồng và 800 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc; trả lại cho bị cáo Nguyễn Công T 01 điện thoại di động OPPO A5s và 01 điện thoại OPPO F9; trả lại cho bị cáo Phùng Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7.

Các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M đều xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi cấu thành tội phạm của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Tại phiên tòa các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai người làm chứng và tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 14 giờ ngày 10-7-2020, sau khi cùng ăn nhậu xong tại Kiôt số **, thuộc khu *, xã T, huyện V, Nguyễn Công T, Diệp Thế H và Phùng Văn M đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi xóc đĩa. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 7.000.000 (bẩy triệu) đồng, thu trên chiếu bạc. Do đó, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M phạm tội “Đánh bạc”, là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tại địa phương và xã hội, là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[6] Về nhân thân: Trước khi phạm tội các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.

[7] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng cũng cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Đây là vụ án có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là lái xe tải chờ xuất hàng sang Trung Quốc, trong lúc chờ các bị cáo đã rủ nhau đánh bạc, không có sự bàn bạc trước, do bột phát. Các bị cáo đánh bạc, không có tính chất chuyên nghiệp, các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm lần đầu, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong thời gian tại ngoại không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật, nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Xét về vai trò của từng bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Công T là người rủ bị cáo Diệp Thế H và đi đi lấy bát, đĩa; bị cáo Diệp Thế H hưởng ứng và đồng ý, là người xóc đĩa, nên cần xử phạt bị cáo Nguyễn Công T và bị cáo Diệp Thế H với mức hình phạt nặng hơn bị cáo Phùng Văn M. Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có tài sản gì có giá trị (thể hiện tại kết quả xác minh). Tuy vậy, bị cáo Diệp Thế H có số tiền đang tạm giữ là 11.500.000 (mười một triệu năm trăm nghìn) đồng, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Diệp Thế H. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Công T, Phùng Văn M.

[9] Theo các bị cáo khai trong quá trình đánh bạc có 02 đến 03 người đánh bạc cùng, nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Nên cơ quan điều tra không tiến hành xác minh làm rõ được.

[10] Về vật chứng của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số tiền 7.000.000 (bẩy triệu) đồng thu trên chiếu bạc, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với 04 quân vị, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 01 miếng bìa cattong, là vật liên quan đến việc đánh bạc, tịch thu tiêu hủy; đối 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, số tiền 11.500.000 (mười một triệu năm trăm nghìn) đồng và 800 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc tạm giữ của Diệp Thế H, là tiền Diệp Thế H mang theo trả tiền bến bãi và thuê người lái xe sang Trung Quốc; đối với 01 điện thoại di động OPPO A5s và 01 điện thoại OPPO F9 tạm giữ của Nguyễn Công T; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7 tạm giữ của Phùng Văn M. Xét thấy, các bị cáo không sử dụng tiền và điện thoại vào việc phạm tội, nên trả lại cho các bị cáo.

[11] Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; khoản 1, 2, 3, 5 Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Diệp Thế H.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; khoản 1, 2, 5 Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Công T, Phùng Văn M.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M phạm tội: Đánh bạc.

2. Hình phạt:

1- Xử phạt bị cáo Diệp Thế H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Diệp Thế H cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Diệp Thế H 10.000.000 (mười triệu triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

2- Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Công T cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

3- Xử phạt bị cáo Phùng Văn M 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phùng Văn M cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 7.000.000 (bẩy triệu) đồng. Đã giám định, niêm phong trong 01 phong bì ghi chữ viết tay “QT Diệp Thế H”.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 04 quân vị hình tròn được cắt từ quân bài tú lơ khơ, có đường kính 1,7cm; 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn có đường kính 15cm; 01 bát con bằng sứ, màu trắng, hình tròn có đường kính 11,5cm; 01 miếng bìa cattong được cắt từ vỏ bia Sài Gòn, mặt sau có chữ viết tay “chẵn”, “lẻ”, có diện 26cm x 51cm.

Trả lại cho bị cáo Diệp Thế H gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 màu xanh dương, số IMEI 1 có bốn số cuối là 8**8 và số IMEI 2: có bốn số cuối là 8**1, đã qua sử dụng và số tiền 11.500.000 (mười một triệu năm trăm nghìn) đồng và 800 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc. Đã giám định, niêm phong trong 01 phong bì ghi chữ viết tay “TG Diệp Thế H” (tạm giữ để đảm bảo thi hành án).

Trả cho bị cáo Nguyễn Công T gồm: 01 điện thoại di động OPPO A5s màu đen, số IMEI 1 có bốn số cuối là 1**6, số IMEI 2 có bốn số cuối là 1**8, đã qua sử dụng màn hình cường lực bị nứt vỡ và 01 điện thoại OPPO F9 màu xanh đen, số IMEI 1 có bốn số cuối là 3**0, số IMEI 2 có bốn số cuối là 3**2, đã qua sử dụng, màn hình dán cường lực bị nứt vỡ.

Trả cho bị cáo Phùng Văn M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7 màu đen, có số IMEI bốn số cuối là 4**0, số IMEI có bốn số cuối là 4**8, đã qua sử dụng, màn hình cường lực bị nứt vỡ.

(Các vật chứng trên được ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-11- 2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Diệp Thế H, Nguyễn Công T và Phùng Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


63
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 81/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:81/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Văn Lãng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/11/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về