Bản án 81/2019/HNGĐ-ST ngày 21/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 81/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị S, sinh năm: 1985 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh G, sinh năm: 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn Chị Đoàn Thị S trình bày:

Chị và anh G do tìm hiểu, quen biết và đi đến hôn nhân vào năm 2010, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên cự cãi do anh G không lo làm ăn mà chỉ tham gia cá độ, chơi số đề và nhiều lần bỏ đi nơi khác sinh sống. Vợ chồng chị không còn chung sống với nhau khoảng 02 năm nay. Nhận thấy tình cảm không còn, nay chị yêu cầu ly hôn với anh G.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 10/6/2011 hiện do chị đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh G cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Chị S yêu cầu để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn Anh Nguyễn Thanh G trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án yêu cầu ly hôn của Chị S và được triệu tập hợp lệ để tham gia để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh G vắng mặt không rõ lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của anh G về nội dung đơn khởi kiện của Chị S.

Tại phiên tòa Chị Đoàn Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt, anh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do chính đáng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Chị Đoàn Thị S yêu cầu ly hôn. Anh G có nơi cư trú tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Nguyên đơn Chị Đoàn Thị S có đơn xin vắng mặt, bị đơn Anh Nguyễn Thanh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 22, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị S và Anh Nguyễn Thanh G xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cự cãi do anh G không lo làm ăn mà chỉ tham gia cá độ, chơi số đề và nhiều lần bỏ đi nơi khác sinh sống, vợ chồng chị không còn chung sống với nhau khoảng 02 năm nay. Anh G không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị S xác định mâu thuẫn giữa anh, chị là trầm trọng, nếu tiếp tục chung sống với anh G thì không còn hạnh phúc.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh G cũng không gửi cho Tòa án ý kiến cũng như không tham gia các phiên hòa giải, nên Tòa án đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của Chị S và anh G không thể tiếp tục, cả hai không muốn hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị S là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 10/6/2011 hiện do chị đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh G cấp dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy cháu My sống với Chị S từ nhỏ, được Chị S chăm sóc tốt và đảm bảo về mọi mặt về chỗ ở, môi trường học tập cho cháu nên tâm tư, tình cảm của cháu gắn liền với mẹ, hơn nữa hiện nay cháu mới hơn 08 tuổi cũng cần sự chăm sóc của người mẹ. Trong quá trình giải quyết vụ án anh G cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu của Chị s. Do đó, để tạo điều kiện ổn định cho sự phát triển về thể chất và tinh thần cho cháu My, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị s, giao cháu My cho Chị S tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc là phù hợp với quy định pháp luật

[5] Về mức cấp dưỡng nuôi con chung: do Chị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về quan hệ tài sản chung: ghi nhận ý kiến của Chị S trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về quan hệ nợ chung: ghi nhận ý kiến của Chị S trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Đoàn Thị S phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Các Điều 28, 35, 146, 147, 227, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Đoàn Thị S.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị S được ly hôn với Anh Nguyễn Thanh G.

- Về quan hệ con chung: Chị Đoàn Thị S được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày: 10/6/2011 cho đến tuổi thành niên. Anh Nguyễn Thanh G không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Đoàn Thị S cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở Anh Nguyễn Thanh G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết, vợ chồng tự thỏa thuận.

- Về quan hệ nợ chung: ghi nhận việc Chị S xác định vợ chồng không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì Chị S và anh G vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012581 ngày 13/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chị S đã nộp xong.

Chị Đoàn Thị S và Anh Nguyễn Thanh G được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 81/2019/HNGĐ-ST ngày 21/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:81/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về