Bản án 115/2019/HNGĐ-ST ngày 03/10/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 115/2019/HNGĐ-ST NGÀY 03/10/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 03 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 597/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1993; thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện H, tỉnh T; tạm trú: Tổ 33, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1983; thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện H, tỉnh T; chổ ở hiện nay: Tổ 33, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/6/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn D tự nguyện chung sống từ năm 2013, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh B vào ngày 15/01/2013 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10 quyển số 01/2013). Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh từ việc vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung, không đồng quan điểm sống nên thường cãi nhau. Từ khoảng tháng 6/2019 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Chị X xác định không còn tình cảm với anh D nên chị yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Quốc B, sinh ngày 10/12/2013. Hiện nay cháu vẫn đang sống chung với chị nên khi ly hôn chị X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn D: Quá trình tố tụng, anh Nguyễn Văn D đã được Tòa án thông báo thụ lý, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 10/9/2019; tham gia phiên tòa vào các ngày 27/9/2019 và ngày 03/10/2019 nhưng anh D vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị X.

- Tại biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An tại Hội liên hiệp phụ nữ phường T, thị xã D thể hiện: Hội Liên hiệp phụ nữ phường T không nhận được đơn hay yêu cầu hòa giải về tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn D nên không biết được giữa hai anh chị có mâu thuẫn gì, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ đâu.

- Tại phiếu trả lời kết quả xác minh của Công an phường T thể hiện: Anh Nguyễn Văn D không đăng ký thường trú, tạm trú nhưng hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Tổ 33, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.

Về quan hệ hôn nhân, chị X và anh D có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng, anh D không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp lời khai và chứng cứ về quan hệ hôn nhân nên có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị X và anh D là trầm trọng, chị X có yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Về con chung, chị X có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Theo đơn khởi kiện chị X có yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, lời khai trong quá trình tố tụng chị X xác định yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, đây là sự tự nguyên của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Anh D vắng mặt, không trình bày ý kiến nên yêu cầu của chị X về vấn đề nuôi dưỡng con chung là có căn cứ. Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không tranh chấp, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhận định:

 [1] Chị Nguyễn Thị X khởi kiện anh Nguyễn Văn D yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung. Căn cứ biên bản xác minh tại Công an phường T thể hiện: Anh Nguyễn Văn D không đăng ký thường trú, tạm trú nhưng hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Tổ 33, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tòa án đã triệu tập hợp anh Nguyễn Văn D để tham gia phiên tòa vào các ngày 27/9/2019 và ngày 03/10/2019 nhưng anh D vắng mặt không rõ lý do. Ngày 13/9/2019 nguyên đơn chị Nguyễn Thị X nộp đơn từ chối hòa giải và đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt anh D và chị X.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn D là vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh B vào ngày 15/01/2013 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10 quyển số 01/2013) nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị X xác định trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống được với nhau và yêu cầu được ly hôn. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn D đến làm việc nhưng anh D đều vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, anh D cũng không có văn bản nào thể hiện thiện chí đưa ra phương pháp hàn gắn mối quan hệ giữa anh và chị X nên có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị X và anh D phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị X yêu cầu được ly hôn với anh D là phù hợp với quy định của Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị X và anh D có 01 con chung là cháu Nguyễn Quốc B, sinh ngày 10/12/2013. Hiện nay chị X đang làm công nhân, có thu nhập, có điều kiện kinh tế để nuôi con và thực tế từ trước đến nay là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu B. Anh D vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu về nuôi con của chị X. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và tr em sau khi ly hôn cần giao con chung tên Nguyễn Quốc B cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện ngày 18/6/2019 chị X có yêu cầu anh Nguyễn Văn D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 (hai triêu) đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Việc chị X yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tuy nhiên, lời khai trong quá trình tố tụng, chị X xác định chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.Xét đây là ý chí tự định đoạt của đương sự nên ghi nhận sự tự nguyện của chị X về việc không yêu cầu anh D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị X không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[7] Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điểm a Khoản 5 và Điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Văn D (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10 quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh B cấp ngày 15/01/2013).

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 12/10/2013 cho chị Nguyễn Thị X trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị X về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn D đều có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được quyền cản trở anh chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0028790 ngày 25/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

5. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


74
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 115/2019/HNGĐ-ST ngày 03/10/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:115/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:03/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về