Bản án 80/2020/HS-ST ngày 22/07/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 80/2020/HS-ST NGÀY 22/07/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2020/TLST- HS ngày 07 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN THỊ H, sinh năm 1984 tại Gia Lai; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 4, phường K, thành phố P, tỉnh G; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1967, bị cáo có chồng là Trần Quốc K, sinh năm 1973; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 22-11-2019 đến ngày 26-11-2019, thực hiện hành vi phạm tội, đến ngày 24-02-2020 bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

2. BÙI THỊ KIM T, sinh năm 1978 tại Bình Định; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn 2, xã T, thành phố P, tỉnh G; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn:

09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thiện L (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951, bị cáo có chồng là Nguyễn Văn P, sinh năm 1971; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 206; tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 26-11-2019, thực hiện hành vi phạm tội thì bị bắt quả tang. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-11-2019, đến ngày 06-12-2019 bị khởi tố và được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Võ Minh P, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn 1, xã T, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.

- Anh Lê Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn 4, xã T, thành phố P, tỉnh G.

Vắng mặt.

- Ông Trần Quốc K, sinh năm 1972; địa chỉ: 53 Đ, Tổ 4, phường I, thành phố P, tỉnh G. Có mặt.

- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 83 N, Thôn 2, xã T, thành phố P, tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau:

Thông qua các mối quan hệ xã hội, Nguyễn Thị H quen biết với đối tượng tên N (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch), N nói H ghi số đề chuyển lại cho N thì N sẽ trích phần trăm H hồng lại cho H với tỷ lệ cứ 100.000 đồng thì N sẽ cho H 10.000 đồng. Đến tháng 5-2019, H đến nhà Bùi Thị Kim T (là mợ của H) chơi thì biết được T có ghi số đề nên H nói T ghi số đề cho H thì H trích H hồng lại cho T với tỷ lệ cứ 100.000 đồng, H sẽ trả cho T 8.000 đồng, T đồng ý. Vào lúc 16 giờ 45 phút ngày 26-11-2019, khi T đang ghi đầu đuôi số 36 theo kết quả Miền Bắc với số tiền là 50.000 đồng cho Lê Văn H (Sinh năm 1983, trú tại Thôn 4, xã T, thành phố P, tỉnh G) thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của Bùi Thị Kim T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7 Prime; 7.820.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; 03 tờ phơi ghi đề vào ngày 26-11-2019; 05 tờ phơi ghi đề ngày 22-11-2019.

Quá trình điều tra xác định, các bị cáo Bùi Thị Kim T và Nguyễn Thị H thống nhất cách thức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề như sau: Hàng ngày, T dùng giấy vở học sinh cắt nhỏ dùng để làm phơi để ghi số cho người chơi đề. Từ 13 giờ đến 17 giờ hàng ngày, T ghi đề cho người chơi đề đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền Nam (gồm tỉnh G, Đ, K, P, B, Q); còn từ 17 giờ đến 18 giờ thì ghi số đề cho người chơi đề đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc. Ngoài ra, T còn nhận ghi số đề qua tin nhắn theo số điện thoại của T là 0359325399; Với tỷ lệ thắng thua theo đài Miền Nam thì đánh đầu đuôi và bao lô thì 1 ăn 70, bao lô 3 số thì 1 ăn 500, đá 2 cặp số thì 1 ăn 500. Đối với đài Miền Bắc thì tỷ lệ được tính như sau: đánh đầu đuôi và bao lô 02 số thì tỷ lệ 1 ăn 80, bao lô 3 số thì 1 ăn 600, đá 2 cặp số thì 1 ăn 600. Đến khoảng 17 giờ T tổng hợp các con số mà người chơi đề đánh trong ngày theo đài Miền Nam và đến 18 giờ, T tổng hợp các con số mà người chơi đề đánh trong ngày theo đài Miền Bắc chuyển cho H qua số điện thoại 0352951951 của H rồi H ghi lại các con số này của T ra giấy, sau đó, đến khoảng 17 và 18 giờ hàng ngày, N cho người đến nhà H lấy phơi ghi số đề. Sau khi có kết quả xổ số nếu khách trúng thì đến nhà T nhận tiền, còn T sẽ tính tiền H hồng với H; H sẽ tính tiền lại với Nam. Với phương thức như trên, từ ngày 22 - 11-2019 đến ngày 26-11-2019, T đã nhiều lần ghi đề chuyển lại cho H và H chuyển lại cho Nam cụ thể như sau:

* Ngày 22-11-2019, Bùi Thị Kim T nhiều lần nhận ghi đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Gia Lai và kết quả xổ số Miền Bắc sau đó chuyển cho Nguyễn Thị H, cụ thể:

- Lần thứ nhất:

Tại tờ phơi ghi số 1: Theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh G, bao lô các cặp số gồm: 29, 56, 59, 01, 27, 10, 77 và 23; đánh đầu đuôi các cặp số gồm: 04, 10, 90, 50, 01, 27, 76, 14; 01; 12, 79, 21, 23, 15, 91, 58, 66, 51, 91, 24 và 64. Số tiền đánh bạc thực tế trên tờ phơi là 1.630.000 đồng. Số tiền T thực nhận của người chơi đề là 1.298.500 đồng. Các số 01; 77 và 23 bao lô 02 số trúng với số tiền 1.190.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc trên phơi số 1 là 2.820.000 đồng.

Tại tờ phơi ghi số 2: Theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh G, bao lô các cặp số gồm: 81, 82, 15, 21, 27, 32, 28, 37, 81. Bao lô 03 số 228. Đánh đầu đuôi các cặp số gồm: 33, 73, 01, 25, 77, 07, 52, 50, 51, 76, 88, 32, 72, 47, 07, 22, 96, 51, 52, 88, 03, 15, 21, 27, 51 và 51. Số tiền đánh bạc thực tế trên tờ phơi là 2.530.000 đồng. Tiền T thực nhận của người chơi đề là 2.032.000 đồng. Trong đó, số 73 đánh trúng giải tám và số 72 đánh trúng hai số cuối giải đặc biệt với số tiền 2.520.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc trên phơi số 2 là 5.050.000 đồng.

Tại tờ phơi ghi số 3: Theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Gia Lai. Bao lô các cặp số gồm: 33, 88, 82, 36, 17, 79, 14, 54, 78, 96, 07, 32, 17, 70, 90. bao lô cặp ba số 079. Đánh đầu đuôi các cặp số gồm: 63, 73, 40, 88, 79, 01, 32, 77, 14, 07, 37, 76, 42, 45, 32, 17, 22, 06, 89, 14, 41, 31, 70, 90, 41, 71, 55. Số tiền đánh bạc thực tế trên tờ phơi là 3.729.000 đồng. Số tiền T thực nhận của người chơi đề là 2.893.000 đồng. Trong đó, số 73 đánh trúng giải tám và số 52 bao lô 02 số đánh trúng được 01 lô với số tiền 3.080.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc trên tờ phơi số 3 là 6.809.000 đồng.

Tại tờ phơi ghi số 5: Theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh G. Bao lô các cặp số gồm: 24, 92, 32, 51, 15, 50, 33, 03, 37, 79, 81, 60, 77 và 33. Đá 02 cặp số gồm: 37 và 79; 81 và 37. Đánh đầu đuôi các cặp số gồm: 24, 72, 17, 40, 32, 01, 03, 88, 36, 37, 02, 03, 33, 58, 59, 15, 50, 60, 51, 91, 77, 11, 33, 57 và 75. Số tiền đánh bạc thực tế trên tờ phơi là 4.150.000 đồng. Số tiền T thực nhận của người chơi đề là 3.189.500 đồng. Trong đó, số 72 đánh trúng hai số cuối giải đặc biệt; số 51 bao lô đánh trúng được 02 lô; số 50 bao lô 02 số đánh trúng được 01 lô; số 77 bao lô 02 số đánh trúng được 01 lô với số tiền 5.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc trên phơi số 5 là 9.750.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc theo kết quả sổ xố kiến thiết tỉnh G vào ngày 22-11-2019 là: 24.429.000 đồng.

- Lần thứ hai:

Tại tờ phơi ghi số 4: Theo kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc. Bao lô các cặp số gồm: 57, 59, 51, 78, 87, 70, 90, 41, 37, 641, 62, 85. Bao lô 03 số 444. Đá 02 cặp số gồm: 78 và 87; 73 và 72; 67 và 85. Đá 03 cặp số là 70, 90 và 41. Đánh đầu đuôi các cặp số gồm: 77, 41, 20, 32, 41. Đánh đuôi các cặp số gồm: 00, 01, 02, 03, 53, 43, 42, 24, 54, 72, 55, 57, 58, 75, 50, 51, 76, 79, 52, 60, 64, 20, 24, 03, 83. Số tiền đánh bạc thực tế trên tờ phơi là 3.647.000 đồng. Số tiền T thực nhận của người chơi đề là 3.300.000 đồng. Trong đó, số 87, số 78 bao lô 02 số trúng và số 78, 87 bao lô hai số đá; số 90 bao lô 02 số đánh trúng 02 lô; số 73 và số 72 bao lô số đá hai số đánh trúng với số tiền 4.700.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc trên phơi số 4 là 8.347.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc theo kết quả sổ xố kiến thiết Miền Bắc vào ngày 22- 11-2019 là: 8.347.000 đồng.

* Ngày 24-11-2019, Bùi Thị Kim T nhận ghi cho Võ Minh P (SN 1990, trú tại: Thôn 1, xã T, thành phố P, tỉnh G) qua số điện thoại 0814596788 của P theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh K và kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc, sau đó chuyển cho Nguyễn Thị H, cụ thể:

“ghi e 52 lô 20đ, 152 lô 10d, 52 đầu 20 đuôi 100” dựa theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh K với số tiền là 630.000 đồng. Tiền T thực nhận là 525.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 24-11-2019 theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh K là 630.000 đồng.

“ghi 41 lô 10đ, 541 lô 10đ; ghi e 56 lô 10đ 56 đá 41 5đ” ghi theo kết quả xổ số Miền Bắc với số tiền là 1.100.000 đồng. Tiền T thực nhận là 900.000 đồng. Trong đó, số 41 trúng 02 lô đài Miền Bắc với số tiền 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 24-11-2019 theo kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc là 2.700.000 đồng.

* Ngày 25-11-2019, Bùi Thị Kim T nhận ghi qua tin nhắn điện thoại theo sổ số kiến thiết tỉnh Phú Yên và xổ số kiến thiết Miến Bắc, cụ thể:

Ghi theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh P cho thuê bao số điện thoại 0326188566 (hiện chưa xác định được chủ sổ hữu): “11.22.33.82.77 lô 10đ” với số tiền là 850.000đ (tám trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền T thực nhận là 628.000đ (Sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng). Trong đó, số 82 đánh trúng 01 lô với số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc vào ngày 25- 11-2019 theo kết quả xổ số tỉnh P là 1.550.000 đồng.

Ghi theo kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc cho thuê bao số điện thoại 0326188566 (hiện chưa xác định được chủ sở hữu): “đb 69 con 30n db 94.61con 20n66.80 lô5đ” với số tiền là 390.000 đồng. Số tiền T thực nhận là 350.000 đồng.

Ghi cho người chơi đề theo kết quả xổ số Miền Bắc và gửi lại tin nhắn cho H vào thời điểm 05:58:15pm ngày 25-11-2019, gồm các con số sau:

“07.82.83.63.21.01.02.03.61.16.33.81.12dui10n38.39dui15n79.52dui30n80dui20 50dui40n74.82dd4n73dd10n02dd6n53.51lo10n42.20.98.251.451lo5n82.47da5n”. Số tiền đánh bạc thực tế trên tin nhắn là 1.845.000 đồng. Số tiền T thực nhận từ người chơi đề là 1.665.000 đồng. Trong đó, trúng 01 lô 98 với số tiền 400.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc vào ngày 25-11-2019 theo kết quả xổ số Miền Bắc là là 2.635.000 đồng.

* Ngày 26-11-2019, Bùi Thị Kim T ghi đề sau đó chuyển cho Nguyễn Thị H theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đ và xổ số kiến thiết Miền Bắc, thì bị bắt quả tang cụ thể:

Tại tờ phơi đánh số 1 ghi theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đ. Bao lô các cặp số gồm: 28, 45, 79, 47, 74, 79 và 26. Bao lô căp ba số 468. Đánh đầu đuôi các cặp số gồm: 76, 79, 10, 60, 42, 76, 45 và 47. Số tiền đánh bạc trên tờ phơi số 1 là 1.710.000 đồng. Tiền T thực nhận của người chơi đề là 1.309.000 đồng.

Tờ phơi đánh số 2 ghi theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đ. Đánh đầu đuôi các cặp số 79 và 50. Đánh đầu các cặp số: 50 và 13. Đánh đầu cặp 3 số 126. Đá 02 cặp số là 13 và 50. Số tiền đánh bạc trên tờ phơi số 2 là 650.000 đồng. Số tiền thực thu của người chơi đề là 502.000 đồng.

Vào thời điểm 03:55:46pm ngày 26-11-2019 T ghi số theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đ và chuyển lại cho H bằng tin nhắn các con số sau:

“01dd42n90.15.32.07.87dd30n66dd24n33dd12n24.64.86.76.25.34dd6n32.72.51dd 60n79d100d40n21d100d20n96d10d30n47dd170n27.67d12d6n10lo30n444.247.55.

03lo2n 02.20lo3n 32.75.38.78lo10n15lo20n 003lo1n47lo5n”. Số tiền đánh bạc thực tế trên tin nhắn là 3.537.000 đồng. Số tiền thực nhận từ người chơi đề là 2.773.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc vào ngày 26-11-2019 theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đ là 5.897.000 đồng.

Tại tờ phơi đánh số 3: Khi Bùi Thị Kim T đang ghi đầu đuôi số 36 theo kết theo kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc với số tiền là 50.000 đồng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Số tiền trên phơi và thực nhận của người chơi đề là 50.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc vào ngày 26-11-2019 theo kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc là 50.000 đồng.

Đến ngày 06-02-2020, Nguyễn Thị H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đấu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Các bị cáo Nguyễn Thị H và Bùi Thị Kim T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất như cáo trạng đã truy tố về hành vi phạm tội của các bị cáo.

2. Các vấn đề khác:

- Vật chứng vụ án:

- Đối với 03 (ba) tờ phơi ghi đề vào ngày 26-11-2019; 05 (năm) tờ phơi ghi đề ngày 22-11-2019 là chứng cứ của vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku đã lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7 Prime và 7.820.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Qua điều tra xác định, T đã sử dụng tiền và 02 chiếc điện thoại để thực hiện hành vi đánh bạc. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku đã chuyển theo hồ sơ vụ án để xử lý.

- Đối với chiếc điện thoại Sam Sung kèm sim số mà H sử dụng dùng để liên lạc với T để đánh bạc bằng hình thức ghi số đề, sau đó H đã làm mất (không xác định được nơi mất) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku không thu giữ được.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số: 84/CT-VKS ngày 06-5-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị H và Bùi Thị Kim T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thị H và Bùi Thị Kim T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị H và Bùi Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H với mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Bùi Thị Kim T với mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử: Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị H số tiền thu lợi 2% trong tổng số tiền thực nhận 17.297.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

Truy thu của bị cáo Bùi Thị Kim T số tiền thu lợi 8% trong tổng số tiền thực nhận 17.297.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

- Tịch thu ngân sách nhà nước số tiền là 7.820.000 đồng (Bảy triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục không kiểm tra tình trạng bên trong) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục không kiểm tra tình trạng bên trong). Xét đây là phương tiện mà bị cáo T dùng để thực hiện hành vi “Đánh bạc”, do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Các bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh G; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo:

Xét thấy lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Thị H và Bùi Thị Kim T phạm tội như sau:

Xuất phát từ mục đích tư lợi cá nhân, nên khoảng thời gian từ ngày 22-11- 2019 đến ngày 26-11-2019, Bùi Thị Kim T và Nguyễn Thị H đã nhiều lần đánh bạc ăn thua bằng tiền bằng hình thức ghi số đề thì bị phát hiện bắt quả tang, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào ngày 22-11-2019, Bùi Thị Kim T và Nguyễn Thị H đánh bạc bằng hình thức ghi số đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Gia Lai với tổng số tiền là 24.429.000 đồng.

Lần thứ hai: Cũng trong ngày 22-11-2019, Bùi Thị Kim T và Nguyễn Thị H đánh bạc bằng hình thức ghi số đề theo kết quả sổ xố kiến thiết Miền Bắc với tổng số tiền là 8.347.000 đồng.

Lần thứ ba: Vào ngày 26-11-2019, Bùi Thị Kim T và Nguyễn Thị H đánh bạc bằng hình thức ghi số đề theo kết quả sổ xố kiến thiết tỉnh Đ với tổng số tiền là 5.897.000 đồng. Đến 16 giờ 45 phút ngày 26-11-2019, Bùi Thị Kim T bị bắt quả tang cùng tang vật. Ngày 06-02-2020, Nguyễn Thị H ra đầu thú.

Hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Đánh bạc trái phép là một tệ nạn xã hội, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh, gây mất trật tự trị an xã hội. Trong tình hình hiện nay, trên địa bàn thành phố Pl, tỉnh G tội phạm đánh bạc đang có chiều hướng gia tăng cả về số lượng, quy mô và dưới nhiều hình thức. Động cơ, mục đích của các đối tượng đánh bạc bằng hình thức ghi lô, đề là hướng tới việc thu lợi bất chính với mức đánh và trúng bạc cao. Các bị cáo đều nhận thức rõ đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì ham lợi nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Trong đó bị cáo H là người khởi sướng, bị cáo T là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P quyết định truy tố ra trước Tòa án để xét xử đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xét cần xử phạt các bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết và có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên.

 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo H là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; Bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[4] Về hình phạt bổ sung và các vấn đề khác:

Các bị cáo không có công việc và nguồn thu nhập ổn định cho nên Hội đồng xét xử xem xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

Đối với số tiền mà bị cáo Nguyễn Thị H thực nhận trong các phơi đề là 17.297.000 đồng. Trong đó, số tiền này bị cáo H được hưởng 2% nên cần truy thu số tiền này của bị cáo H để sung ngân sách nhà nước là 346.000 đồng.

Đối với số tiền mà bị cáo Bùi Thị Kim T thực nhận trong các phơi đề là Description: C:\Users\adminpc\AppData\Local\Temp\msohtmlclip1\01\clip_image003.png17.297.000 đồng. Trong đó, số tiền này bị cáo T được hưởng 8% nên cần truy thu số tiền này của bị cáo T để sung Ngân sách nhà nước1.383.800 đồng.

Đối với các ngày 24-11-2019; ngày 25-11-2019 và tờ phơi số 3 (đài Miền Bắc) ngày 26-11-2019, các bị cáo Nguyễn Thị H và Bùi Thị Kim T đánh bạc dưới hình thức ghi số đề được thua bằng tiền. Qua điều tra xác định, số tiền đánh bạc của các ngày này đều dưới 5.000.000 đồng, đồng thời các bị cáo T và H chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về tội này và tội theo quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không đề cập xử lý đối với những lần đánh bạc này mà tiến hành xử lý hành chính đối với các lần đánh bạc này là phù hợp.

Đối với đối tượng tên N theo Nguyễn Thị H khai nhận là người nhận phơi đề của H sau đó trích phần trăm H hồng cho H. Trong quá trình điều tra do H không biết nhân thân, lai lịch của N, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét xử lý sau. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để xử lý đối với đối tượng tên Nam là phù hợp.

Đối với Lê Văn H và Võ Minh P là những người đến đánh bạc bằng hình thức ghi số đề với Bùi Thị Kim T. Do số tiền H và P ghi số đề dưới 5.000.000 đồng. Hơn nữa, cả H và P chưa bị xử lý hành chính về hành vi này và chưa bị kết án về tội này và Điều 322 của Bộ luật Hình sự nên hành vi của H và P chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với H và P là phù hợp.

Đối với những người đến đánh bạc với Bùi Thị Kim T bằng hình thức ghi số đề, do T không biết được nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa có căn cứ xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với chủ số thuê bao số 0326188566, do T không biết rõ nhân thân, lai lịch của người sử dụng số điện thoại này, hơn nữa số tiền đánh bạc của số thuê bao này dưới 5.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nên Cơ quan điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh khi nào xác định được sẽ xem xét xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với Nguyễn Văn P - là chồng của Bùi Thị Kim T và Trần Quốc K là chồng của Nguyễn Thị H. Quá trình H và T đánh bạc dưới hình thức ghi số đề thì P và K không biết. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P không truy cứu hình sự đối với P và K là có căn cứ.

[4] Về vật chứng vụ án:

- Đối với 7.820.000 đồng (Bảy triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Xét đây là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục không kiểm tra tình trạng bên trong) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục không kiểm tra tình trạng bên trong). Xét đây là phương tiện mà bị cáo T dùng để thực hiện hành vi “Đánh bạc”, do đó cần tịch thu ngân sách nhà nước.

[5] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Bùi Thị Kim T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51: điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị H:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Bùi Thị Kim T:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị H, Bùi Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị H 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

Xử phạt bị cáo: Bùi Thị Kim T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt, (nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27-11- 2019 đến ngày 06-12-2019).

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử:

- Tịch thu 7.820.000 đồng (Bảy triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để sung ngân sách nhà nước.

- Tịch thu ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục không kiểm tra tình trạng bên trong) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục không kiểm tra tình trạng bên trong).

(Tất cả theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố P, tỉnh G và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh G ngày 13-5- 2020).

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị H số tiền thu lợi là 346.000 đồng, để sung ngân sách nhà nước.

- Truy thu của bị cáo Bùi Thị Kim T số tiền thu lợi là 1.383.800 đồng, để sung ngân sách nhà nước.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Buộc: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Bùi Thị Kim T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, anh Trần Quốc K và anh Nguyễn Văn P có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm. Riêng anh Võ Văn P và anh Lê Văn H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2020/HS-ST ngày 22/07/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:80/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về