Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 08/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 80/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/10/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 08 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1981. Hộ khẩu thường trú: Xóm A, Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Tạm trú: Số 58/17, Khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Hà Văn B, sinh năm 1978. Hộ khẩu thường trú: Xóm A, Thôn P, xã Hu, huyện H, tỉnh Nam Định; Tạm Trú: Số 77/10, Tổ 10, Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Phan Thị L trình bày:

Bà Phan Thị L và ông Hà Văn B là vợ chồng, tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 11/10/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng vào Nam để sinh sống và làm việc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông B thường xuyên uống rượu và hay đánh đập, chửi bới dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, bà L đã thuê nhà trọ tại phường B để sinh sống. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, hôn nhân không thể kéo dài. Vì vậy, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Hà Thị Ngọc B, sinh ngày 12/01/2005 và Hà Đức L, sinh ngày 08/02/2011, khi ly hôn bà L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L, ông B nuôi dưỡng cháu B, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện nguyên đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ sau: Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu, Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính), giấy khai sinh cháu Hà Thị Ngọc B và Hà Văn L (bản sao).

Bị đơn ông Hà Văn B đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ, nhưng ông B không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà L. Quá trình giải quyết, Tòa án đã ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đã niêm yết hợp lệ cho bị đơn tại nơi cư trú, địa phương và tại trụ sở Tòa án theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông B đều vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Phan Thị L có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì thêm.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

[1] Về tố tụng:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Bà L và ông B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Nay bà L có đơn xin ly hôn với ông B và có yêu cầu giải quyết về vấn đề con chung. Như vậy, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự .

[1.2] Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Bị đơn ông Hà Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông B không đến Tòa án để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng không thông báo lý do vắng mặt cho Tòa án biết. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ngày 30/8/2019 nguyên đơn bà Phan Thị L có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Các vấn đề có tranh chấp: Bà L và ông B là vợ chồng, sống chung có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, vào ngày 11/10/2002 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà L cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông B thường xuyên đánh đập và chửi bới bà, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm hai bên. Bà L đã chuyển về ở trọ tại thị xã T, riêng ông B vẫn còn sinh sống tại phường P. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ông B, bà L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông B là có căn cứ, đúng pháp luật theo quy định tại theo Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Hà Thị Ngọc B, sinh ngày 12/01/2005 và Hà Đức L, sinh ngày 08/02/2011, khi ly hôn bà L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L, ông B nuôi dưỡng cháu B, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai. Theo bản tự khai con chung Hà Thị Ngọc B có nguyện vọng sống chung với cha tên Hà Văn B và cháu Hà Đức L có nguyện vọng sống cùng với mẹ. Như vậy, nguyện vọng của các cháu cũng phù hợp với yêu cầu của bà L theo đơn khởi kiện ly hôn. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử giao con Hà Thị Ngọc B cho ông Hà Văn B chăm sóc nuôi dưỡng và cháu Hà Đức L cho bà Phan Thị L chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ phân tích trên, xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Tòa chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật.

V các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị L về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con" đối với bị đơn ông Hà Văn B.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị L được ly hôn với ông Hà Văn B.

Về con chung: Ông Hà Văn B được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Hà Thị Ngọc B, sinh ngày 12/01/2005. Bà Phan Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hà Đức L, sinh ngày 08/02/2011.

Không ai được quyền cản trở bà Phan Thị L, ông Hà Văn B trong việc thăm nom, chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau này khi cần thiết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét do đương sự không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình: Bà Phan Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tạm ứng trước đây theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0034098 ngày 14/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 08/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:80/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 08/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về