Bản án 80/2018/HS-ST ngày 24/10/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 80/2018/HS-ST NGÀY 24/10/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 24 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Trần Tô Thên L; sinh năm 1982; tại Bình Định; Nơi đăng ký HKTT: Cảnh An 2, Phước Thành, Tuy Phước, Bình Định; Chỗ ở: thôn 6, xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tô (đã chết) và bà Trần Thị Hồng Thoa; có vợ là Đinh Thị Linh; bị cáo có 01 người con, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2018 đến ngày 18/4/2018. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn T; sinh năm 1976; tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn 1, Đăk Buk So, Tuy Đ1, Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 8/12; dân tc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thịnh và bà Nguyễn Thị Vinh; có vợ là Nguyễn Thị Luyến; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2018 đến ngày 18/4/2018. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn Đ; sinh năm 1960; tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 7/10; dân tc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thát (đã chết) và bà Viết Thị Sang; có vợ là Lê Thị T1; bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2018 đến ngày 18/4/2018. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Khắc Th; sinh năm 1967; tại Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT: Đội 3, Cát Q, Hoài Đ, Hà Nội; Chỗ ở: Thôn 11, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 5/10; dân tc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Bình (đã chết) và bà Lê Thị Sửu; có vợ là Nguyễn Thị L; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2018 đến ngày 18/4/2018. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, Ng vụ liên quan:

+ Chị Phi Thị H sinh năm: 1980.

Đa chỉ: Thôn 6, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

+ Anh Nguyễn Xuân Đ1 sinh năm 1973

Địa chỉ: Thôn 6, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

+ Bà Lê Thị T1 sinh năm 1967

Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

+ Anh Nguyễn Khắc Ng sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

+ Anh Nguyễn Văn T2 sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

+ Bà Nguyễn Thị Tình sinh năm 1963

Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Chị H, bà T1 có mặt tại phiên tòa, anh Đ1, anh Ng, anh T2, bà Tình vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 45 ngày 13/4/2018, Công an huyện Lâm Hà bắt quả tang vụ đánh bạc dưới hình thức đánh chắn ăn tiền tại nhà bà Phi Thị H thuộc thôn 6, xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng đối với các đối tượng: Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Khắc Th, Nguyễn Văn T, Trần Tô Thiên L.

Tang vật thu giữ: Thu tại chiếu bạc số tiền 5.660.000đồng, 01 đĩa sứ, 01 bộ bài chắn và 01 chiếu cói; thu trên người Nguyễn Văn Đ số tiền 1.650.000đồng và 01 điện thoại di động hiệu Mobistar, thu của Lê Thị T1 số tiền 16.240.000đồng và 01 điện thoại Gionee, thu của Nguyễn Khắc Th số tiền 1.550.000đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, thu của Nguyễn Văn T số tiền 2.715.000đồng và 01 điện thoại di động Intell, thu của Nguyễn Khắc Ng số tiền 9.150.000đồng và 01 điện thoại di động Coolbad, thu của Trần Tô Thiên L số tiền 150.000đồng, 01 điện thoại di động Mobistar và 01 điện thoại di động hiệu Nokia1280. Tổng số tiền thu giữ là 37.115.000đồng.

Quá trình điều tra xác định được: Vào khoảng 10 giờ ngày 13/4/2018, đối tượng Nguyễn Xuân Đ1 (Mến), Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Khắc Th, Nguyễn Văn T, Trần Tô Thên L đến nhà Phi Thị H ở thôn 6, xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà ngồi chơi uống nước, sau đó các đối tượng đã rủ nhau đánh bạc, lúc đầu thì có Đ1, Đ, T và L chơi đánh bạc dưới hình thức đánh chắn. Trước khi chơi đánh bạc L là người chuẩn bị công cụ như trải chiếu, lấy đĩa. Các đối tượng đánh đến khoảng 11 giờ 00 cùng ngày Đ1 có việc đi về trước thì Th vào thế chỗ của Đ1 để tham gia đánh bạc. Khi chơi đánh bạc các đối tượng sử dụng số tiền vào mục đích đánh bạc như sau: Nguyễn Văn T sử dụng 3.515.000đồng, Nguyễn Văn Đ sử dụng 1.650.000đồng, Nguyễn Khắc Th sử dụng 1.550.000đồng, Trần Tô Thên L sử dụng 850.000đồng, Nguyễn Xuân Đ1 sử dụng 450.000đồng. Phi Thị H là chủ quán để cho các đối tượng đánh bạc ở trong nhà, Lê Thị T1, Nguyễn Khắc Ng không tham gia đánh bạc mà ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến 11 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an bắt quả tang thu giữ T1 bộ tang vật.

Cách thức chơi đánh bạc như sau: Bộ bài chắn gồm 100 quân được chia cho 04 người chơi, mỗi người được 20 quân bài, còn lại là 20 quân để lên đĩa gọi là nọc cho mọi người cùng bốc. Khi vào đánh mỗi người bỏ ra 200.000đồng giữa chiếu gọi là góp hội. Trong quá trình chơi nếu ai thắng thì sẽ lấy một phần tiền từ tiền góp hội, khi tiền trong hội hết thì góp hội mới. Có các cách ù như sau: Ù xuông được 40.000đồng, ù tôm được 120.000đồng, ù lèo được 140.000đồng, ù bạch định được 160.000đồng, ù tám đỏ được 180.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS-LH ngày 12/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử các bị can Trần Tô Thên L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Khắc Th về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trần Tô Thên L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Khắc Th về tội: “Đánh bạc”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Tô Thên L từ 06 đến 09 tháng tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Khắc Th mỗi bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù. Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 11.725.000đồng liên quan đến hành vi đánh bạc, tịch thu tiêu hủy 01 chiếu cói; 01 bộ bài chắn, 01 đĩa sứ. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Lâm Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 13/4/2018, Công an huyện Lâm Hà đã bắt quả tang các đối tượng Trần Tô Thên L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Khắc Th đang đánh bạc dưới hình thức đánh chắn tại phòng bếp của gia đình chị Phi Thị H với số tiền thu trên chiếu bạc là 5.660.000đồng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, Ng vụ liên quan, biên bản phạm tội quả tang, tang vật thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Trần Tô Thên L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Khắc Th phạm tội “ Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức đánh chắn được thua bằng tiền của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý nhằm tước đoạt tiền bạc của nhau là hành vi vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội nên nhà nước nghiêm cấm đánh bạc dưới mọi hình thức. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và nếp sống văn minh tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn gia đình và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi đã thực hiện.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thì bị cáo Trần Tô Thên L là người chuẩn bị công cụ phạm tội lấy đĩa, lấy bài để các bị cáo cùng đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng số tiền để đánh bạc lớn nhất 3.515.000đồng. Bị cáo Nguyễn Văn Đ sử dụng số tiền 1.650.000đồng để tham gia đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Khắc Th tham gia đánh bạc sau cùng và sử dụng số tiền để đánh bạc ít hơn bị cáo Đ. Vì vậy, bị cáo L và bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau nhưng cao hơn các bị cáo còn lại trong vụ án, bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo L - T nhưng cao hơn bị cáo Th là hoàn T1 phù hợp.

Khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân các bị cáo đều là dân lao động; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự và các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, các bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, để tạo cơ hội cho các bị cáo có điều kiện tiếp tục lao động phát triển kinh tế để chăm lo cho gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần Thết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt dưới sự quản lý giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình.

[3] Đối tượng Nguyễn Xuân Đ1 có hành vi tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo L, T, Đ từ 10 giờ 00 đến 11 giờ 00, quá trình đánh bạc Đ1 đã sử dụng số tiền 450.000đồng để tham gia đánh bạc và đã thua 200.000đồng, sau đó có việc nên đi về và mang theo 250.000đồng, ngày 11/5/2018 anh Đ1 cũng đã nộp lại số tiền này. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Xuân Đ1 với hình thức phạt tiền vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Xuân Đ1.

[4] Chị Phi Thị H là chủ nhà nơi các bị cáo đánh bạc, quá trình đánh bạc các bị cáo đã sử dụng đĩa, chiếu của nhà chị H làm công cụ đánh bạc. Trong quá trình các bị cáo đánh bạc thì chị H không thu tiền xâu chỉ bán thuốc lá và nước uống cho các bị cáo nhưng các bị cáo chưa trả tiền thì bị bắt quả tang. Hành vi của chị H chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không xem xét về trách nhiệm hình sự đối với chị H. Tại phiên tòa hôm nay chị H xác định không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Đối với ba chiếc xe máy thu giữ tại sân nhà chị Phi Thị H khi bắt quả tang thì Cơ quan điều tra đã làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn T2 (em trai bị cáo T), bà Nguyễn Thị Tình (mẹ anh Nguyễn Khắc Ng) và bà Lê Thị T1 (vợ bị cáo Đ). Tại phiên tòa bà T1 xác định đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì. Anh T2, bà Tình vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện đã được nhận lại xe nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với 07 chiếc điện thoại di động đã thu giữ khi bắt quả tang là của các bị cáo, bà T1 và anh Ng, Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên đã trả lại cho các bị cáo, bà T1 và anh Ng. Tại phiên tòa, các bị cáo, bà T1 xác định đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì còn anh Ng vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện anh Ng đã được nhận lại điện thoại và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[7] Số tiền 16.240.000đồng thu giữ của bà T1, 9.150.000đồng thu giữ của anh Ng cơ quan điều tra xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc của các bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả cho bà T1 và anh Ng số tiền trên. Tại phiên tòa, bà T1 xác định đã được nhận lại đầy đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì, và anh Ng vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện anh đã được nhận lại đầy đủ số tiền bị thu giữ và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[8] Số tiền 250.000đồng do Nguyễn Xuân Đ1 nộp cho cơ quan điều tra. Xét thấy, đây là số tiền anh Đ1 sử dụng để đánh bạc nên T2 tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính ra các bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, các bị cáo là dân lao động, hoàn cảnh khó khăn nên không cần Thết phải áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[10] Xử lý vật chứng: Tang vật của vụ án do Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 chiếu cói màu nâu có sọc tím vàng đã qua sử dụng; 01 bộ bài chắn 100 lá đã qua sử dụng, 01 đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng. Đây là tài sản của gia đình chị H, các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc, chị H không có yêu cầu nhận lại, hiện không còn giá trị sử dụng nên T2 tịch thu tiêu hủy. Số tiền 11.725.000đồng các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện tội phạm T2 tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. T2 bố các bị cáo Trần Tô Thên L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Khắc Th phạm tội: “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khon 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Tô Thiên L, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo với thời gian thử thách của mỗi bị cáo là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày T2 án sơ thẩm (24/10/2018).

Bị cáo Nguyễn Văn Đ 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày T2 án sơ thẩm (24/10/2018).

Bị cáo Nguyễn Khắc Th 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày T2 án sơ thẩm (24/10/2018).

Giao bị cáo Trần Tô Thên L, bị cáo Nguyễn Khắc Th cho Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh quản lý, giám sát, giáo dục; giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng quản lý, giám sát, giáo dục; giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đăk BukSo, huyện Tuy Đ1, tỉnh Đăk Nông quản lý, giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm Ng vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, T2:

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 11.725.000đồng (Mười một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tại kho bạc nhà nước huyện Lâm Hà ngày 24/4/2018 và 250.000đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tại kho bạc nhà nước huyện Lâm Hà ngày 31/5/2018 do ông Nguyễn Văn Thành - Công an huyện Lâm Hà nộp.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu cói; 01 bộ bài chắn, 01 đĩa sứ (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2018).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Tô Thên L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Khắc Th mỗi người phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi, Ng vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày T2 án sơ thẩm (24/10/2018), riêng người có quyền lợi, Ng vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.


27
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về