Bản án 80/2017/DSST ngày 25/12/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 80/2017/DSST NGÀY 25/12/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 25 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2017/TLST-HN&GĐ, ngày 05 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156 /2017/QĐXX-ST, ngày 13 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Đình H - sinh năm 1989.

Trú tại: xóm L - xã N - huyện Y- tỉnh Nghệ An

Nghề nghiệp: Làm ruộng (có mặt)

- Bị đơn: Chị Vương Thị B - sinh năm 1990

Trú tại: xóm 3 - xã Đ - huyện Y - tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Làm ruộng (vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn ly hôn đề ngày 02/10/2017, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án anh Trần Đình H trình bày: anh và chị Vương Thị B kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tìm hiểu, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, được sự đồng ý của hai gia đình và đăng ký kết hôn vào 04/7/2011, tại Ủy ban nhân dân xã N - huyện Y. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Mặc dù gia đình hai bên đã khuyên nhủ hòa giải để hai vợ chồng bớt căng thẳng nhưng không đem lại kết quả gì. Từ đó, vợ chồng cắt đứt mọi quan hệ tình cảm và sống ly thân từ nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh yêu cầu Tòa án gải quyết cho anh được ly hôn với chị Vương Thị B.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Thị Ngọc A - sinh ngày 06/9/2012. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Vì từ khi vợ chồng sống ly thân con chung ở với anh H, mọi việc của con chung từ sinh hoạt, đến học tập anh H một mình tự lo toan chị B ra đi thi thoảng chỉ hỏi thăm con chứ không về thăm con lần nào. Tại phiên tòa anh H cho biết hiện nay ngoài công việc chính làm nông nghiệp anh còn làm thêm thợ cơ khí thu nhập hàng tháng trung bình từ 3.000.000 - 4.000.000 đồng, hơn nữa từ khi ly thân con chung ở với anh nên tình cảm gắn bó anh rất thương con không thể xa con được, anh đề nghị Tòa xem xét nguyện vọng của anh.

- Về tài sản: Anh Trần Đình H không yêu cầu tòa án giải quyết.

*Đối với bị đơn chị Vương Thị B quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị B vẫn không có mặt. Tòa án đã trực tiếp tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho chị B theo đúng quy định của pháp luật nhưng chị B vẫn không có mặt, vì vậy không tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và cũng không lấy lời khai của chị được.Tuy nhiên qua tài liệu do nguyên đơn cung cấp và qua biên bản xác minh tại gia đình bố mẹ chị đẻ của chị B, tại ban xóm, xã thì tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên giữa anh Trần Đình H và chị Vương Thị B đúng như anh H trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Sau khi nghe ý kiến trình bày của anh Trần Đình H tại phiên tòa Hội động xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H, chị B yêu cầu anh, chị có mặt tại Toà án để giảiquyết vụ án nhưng chị B không có mặt. Vì vậy Toà án đã lập biên bản theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, làm cơ sở giải quyết vụ án.

Ngày 22 tháng 11 năm 2017, Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đế phiên toà và đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 13/12/2017 anh H có mặt, chị B vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Để tiếp tục giải quyết vụ án, Toà án tiếp tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên toà lần thứ hai cho anh H, chị B tuy nhiên tại phiên toà hôm nay chị B tiếp tục vắng mặt không có lý do. Như vậy, chị B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 điều 227của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.

2. Về nội dung:

- Về hôn nhân: Xét hôn nhân giữa anh H, chị B là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ theo quy định của pháp luật. Song qua xem xét thực tế thì thấy rằng cuộc sống chung của vợ chồng những năm gần đây không được hạnh phúc, mâu thuẫn liên tục xảy ra và đã thực sự căng thẳng, trầm trọng, hai bên đã sống ly thân nhiều năm, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau nữa. Trên cở sở đó xác định tình cảm vợ chồng không còn gắn kết với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị B là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án anh H có nguyện vọng yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Việc nuôi con vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của các bên và nguyện vọng được nuôi con của anh H là hoàn toàn chính đáng.

Xét hoàn cảnh hiện tại của chị B hiện nay thường xuyên đi làm ăn xa, không có thời gian về chăm con, từ khi sống ly thân con chung chủ yếu do một mình anh H lo lắng, chăm sóc, giáo dục. Hơn nữa hiện nay cháu Trần Thị Ngọc A đang ở cùng anh H hoàn toàn ổn định, tại phiên tòa anh H trình bày ngoài việc làm nông nghiệp anh có nghề phụ là cơ khí thu nhập từ 3.000.000 - 4.000.000 đồng/tháng đủ trang trải cuộc sống cho hai bố con anh, hơn nữa từ khi ly thân con chung ở với anh tình cảm gắn bó vì vậy cần tiếp tục giao cho anh H nuôi dưỡng cháu An cho đến khi trưởng thành là phù hợp với tình hình thực tế cũng như quy định của pháp luật.

- Về tài sản: Anh H không yêu cầu tòa án giải quyết nên miễn xét.

- Về án phí: Anh Trần Đình H phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên Tòa đại diện viện kiểm sát có ý kiến và thống nhất: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký cụ thể như sau: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện các quy định tại điều 203 BLTTDS năm 2015. Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp. Việc chấp hành theo pháp luật tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn tuy không tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được nhưng quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Quyết định xét xử cho các đương sự, thực hiện việc xác minh về tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên đúng quy định tại khoản 3 điều 208 BLTTDS Tại phiên Tòa Thẩm phán, HĐXX và Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng giải quyết vụ án.

Với các tài liệu do đương sự cung cấp và thẩm phán thu thập có tại hồ sơ vụ án đủ cơ sở giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28; khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51,56, 81,82,83 của Luật Hôn Nhân và Gia đình;

- Về hôn nhân: Xử cho anh Trần Đình H được ly hôn chị Vương Thị B.

- Về con chung:

+/ Giao cháu Trần Thị Ngọc A - Sinh ngày 06/9/2012 cho anh Trần Đình H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Vương Thị B.

Chị B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Án phí: Căn cứ vào khoản 4, điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điều 27 Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Buộc anh Trần Đình H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, án phí của anh H được tính trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Thành (Biên lai thu tiền số:0002438, ngày 05 tháng 10 năm 2017), anh H đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt anh Trần Đình H, vắng mặt chị Vương Thị B. Tuyên bố để các bên đương sự biết, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2017/DSST ngày 25/12/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:80/2017/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về