Bản án 78/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BN ÁN 78/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 10 tháng 07 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 286/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 04 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2019/QĐXX-ST ngày 07 tháng 06 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2019/QĐST-HN ngày 25 tháng 06 năm 2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Đào Thị Diễm M, sinh năm 1996. (Có mặt)

Đa chỉ: kênh N, ấp Ph, xã Ph, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

2.Bị đơn: Anh Lê Phạm Anh Th, sinh năm 1993. (Vắng mặt)

Đa chỉ: N, ấp M, xã P, TP M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 22/04/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đào Thị Diễm M trình bày:

Chị Đào Thị Diễm M và anh Lê Phạm Anh Th tự nguyện sống chung vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph, huyện H, tỉnh Hậu Giang ngày 10/05/2017. Anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì đến tháng 09 năm 2018 có mâu thuẩn xảy ra. Nguyên nhân do anh Th có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên xảy mâu thuẩn cự cãi, anh Th không quan tâm đến vợ con. Anh chị đã tự ly thân từ tháng 03 năm 2019 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Phạm Anh Th.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Phạm Anh H, sinh ngày 29/10/2016 hiện chị M đang chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Đào Thị Diễm M yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Phạm Anh H. Chị M yêu cầu anh Lê Phạm Anh Th cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Huy tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa, chị Đào Thị Diễm M yêu cầu anh Lê Phạm Anh Th phải cấp dưỡng nuôi cháu Lê Phạm Anh H hàng tháng 800.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Đi với bị đơn anh Lê Phạm Anh Th, Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng thủ tục hợp lệ. Bị đơn Lê Phạm Anh Th dù đã nhận Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng không nộp bản tự khai trình bày ý kiến của mình, không dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho có ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Đào Thị Diễm M được ly hôn với anh Lê Phạm Anh Th.

- Về con chung: Chị Đào Thị Diễm M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Phạm Anh H, sinh ngày 29/10/2016. Anh Th phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 800.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật. Anh Lê Phạm Anh Th được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đào Thị Diễm M trình bày chị M và anh Lê Phạm Anh Th không có tài sản chung và nợ chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Thị Diễm M là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn anh Lê Phạm Anh Th cư trú tại N, ấp M , xã P, TP M, tỉnh Tiền Giang.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

[2] Bị đơn anh Lê Phạm Anh Th vắng mặt không có lý do tại phiên tòa mặc dù đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Phạm Anh Th.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Diễm M và anh Lê Phạm Anh Th tự nguyện sống chung từ năm 2016 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph, huyện H, tỉnh Hậu Giang ngày 10/05/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nhận thấy mâu thuẩn giữa chị Đào Thị Diễm M và anh Lê Phạm Anh Th là do anh Th có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên có mâu thuẩn cự cãi, anh Th không quan tâm đến vợ con. Xét thấy, mục đích của hôn nhân giữa chị Đào Thị Diễm M và anh Lê Phạm Anh Th không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài nên anh chị đã tự ly thân từ tháng 03 năm 2019 cho đến nay. Do vậy chị Đào Thị Diễm M yêu cầu ly hôn với anh Lê Phạm Anh Th là có cơ sở.

Yêu cầu ly hôn của chị Đào Thị Diễm M là có căn cứ theo Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Đào Thị Diễm M yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Phạm Anh H, sinh ngày 29/10/2016 do chị đã trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu từ nhỏ đến nay. Chị M yêu cầu anh Lê Phạm Anh Th cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 800.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Lê Phạm Anh H tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Yêu cầu của chị Đào Thị Diễm M là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đào Thị Diễm M trình bày chị M và anh Lê Phạm Anh Th không có tài sản chung và nợ chung. Anh Lê Phạm Anh Th không đến tham dự phiên tòa và không gửi văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét đến nợ chung, tài sản chung của anh chị. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ kiện khác.

[6] Về án phí: Chị Đào Thị Diễm M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Anh Lê Phạm Anh Th phải chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

 - Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Diễm M.

1. Về hôn nhân: Chị Đào Thị Diễm M được ly hôn với anh Lê Phạm Anh Th.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Phạm Anh H, sinh ngày 29/10/2016 cho chị Đào Thị Diễm M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lê Phạm Anh Th phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 800.000 đồng/tháng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Lê Phạm Anh H tròn 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con;

kng ai được ngăn cản người đó thực hiện quyền nầy.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đào Thị Diễm M trình bày chị M và anh Lê Phạm Anh Th không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Đào Thị Diễm M phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí thành án phí hôn nhân sơ thẩm (theo biên lai thu tiền số 0014155 ngày 22/04/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang).

Anh Lê Phạm Anh Th phải chịu 300.000 đồng án phí nghĩa vụ cấp dưỡng.

6. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 78/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:78/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về