Bản án 78/2019/HNGĐ-ST ngày 05/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 78/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/07/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện XM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2019/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lượng Thị Kim H, sinh năm: 1978 (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 2, xã BR, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Võ Quốc T, sinh năm: 1973 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 2, xã BR, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2019 bản khai và các biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án nguyên đơn – Bà Lượng Thị Kim H trình bày:

Bà H xây dựng gia đình với ông Võ Quốc T vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại UBND xã BR, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, hôn nhân là trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới, trước khi cưới có tìm hiểu nhau một thời gian. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà H và ông T bất đồng quan điểm nên thường phát sinh cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung. Bà H và ông T đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn nhưng tình hình không có gì thay đổi. Bà H và ông T đã ly thân từ đầu năm 2019 đến nay, không còn quan hệ qua lại gì về mặt tình cảm cũng như kinh tế.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung tên Võ Thị Thiên K, sinh ngày 06/9/2000 (Đã trưởng thành) và Võ Quốc Thiên Q, sinh ngày 11/11/2008 hiện đang sống với bà H. Bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập ông Võ Quốc T đến tham gia hòa giải nhiều lần, nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án lập biên bản về việc vắng mặt đương sự không tiến hành hòa giải được để có cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tại các phiên Tòa ông T đều vắng mặt không có lý do.

Phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình còn bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc trước đây cũng như tại các phiên tòa là chưa chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn và giải quyết con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Quan hệ tranh chấp: Bà Lượng Thị Kim H yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Võ Quốc T, đây là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Võ Quốc T có nơi cư trú tại địa bàn huyện XM nên căn cứ vào quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trong quá trình tham gia tố tụng, bà Lượng Thị Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Võ Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy việc xét xử vắng mặt bà H và ông T là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H xây dựng gia đình với ông T vào năm 1999 có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 0402/99, quyển số 01B của UBND xã BR, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Bà H và ông T chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bà H và ông T bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Bà H và ông T đã ngồi lại để giải quyết mâu thuẫn nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi.

Kết quả xác minh tại địa phương: Do bà H và ông T không hòa giải ở cơ sở nên địa phương không nắm rõ mâu thuẫn nhưng bà H và ông T hay cãi nhau, trước đây bà H cũng đã yêu cầu ban ấp hòa giải một lần, sau đó bà H và ông T đã hòa thuận chung sống với nhau. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T là có thật. Xét yêu cầu của bà H cho thấy sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra bà H và ông T phải cùng tìm cách khắc phục những mâu thuẫn của vợ chồng để cuộc sống chung được hạnh phúc và cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng từ đầu năm 2019 đến nay bà H và ông T ly thân, mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì đến nhau. Sau khi bà H gửi đơn, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải để đoàn tụ vợ chồng nhưng không thể hòa giải được, ông T vắng mặt không lý do, không thể hiện có thiện chí hòa giải.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng của bà H và ông T thật sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông T.

[3] Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung tên Võ Thị Thiên K, sinh ngày 06/9/2000 (Đã trưởng thành) và Võ Quốc Thiên Q, sinh ngày 11/11/2008.

Xét yêu cầu của bà H cho thấy, từ khi bà H nộp đơn và Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay ông T không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình về việc bà H có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Quốc Thiên Q. Xét nguyện vọng của cháu Q cho thấy, cháu có nguyện vọng ở với bà H. Do đó để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên giao cháu Q cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà H tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung là sự tự nguyện của bà H nên được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Lượng Thị Kim H đối với ông Võ Quốc T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lượng Thị Kim H được ly hôn với ông Võ Quốc T.

2. Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung tên Võ Thị Thiên K, sinh ngày 06/9/2000 (Đã trưởng thành) và Võ Quốc Thiên Q, sinh ngày 11/11/2008. Bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Quốc Thiên Q.

Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Võ Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Bà Lượng Thị Kim H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007893 ngày 13/3/2019 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 78/2019/HNGĐ-ST ngày 05/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:78/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về