Bản án 78/2018/HNGĐ-ST ngày 09/07/2018 về ly hôn

 TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 78/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/07/2018 VỀ LY HÔN

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2018/TLST- HNGĐ ngày 15/3/2018 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày28/5/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 143/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19/6/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1995 (có mặt). Địa chỉ: ấp H, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: anh Trịnh Văn Đ, sinh năm 1994 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp Đ, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 07/5/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến N trình bày: sau thời gian tự tìm hiểu, tôi và anh Trịnh Văn Đ tiến đến hôn nhân vào năm 2012, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ngày 19/5/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được một con chung tên Trịnh Quốc Đ, sinh ngày 06/10/2013. Tuy Nhiên, đến tháng 6 năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ không chung thủy với tôi và bỏ nhà đi theo người phụ nữ khác từ tháng 6 năm 2014 cho đến nay. Nay không còn tình cảm với anh Đ nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về quan hệ con chung: hiện tại cháu Trịnh Quốc Đ đang sống chung với tôi. Sau khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ. Tôi không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Trịnh Văn Đ: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh Đ, nhưng anh đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trịnh Văn Đ đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Đ, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Trịnh Văn Đ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập, anh Đ đều vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

[3] Về nội dung: chị Nguyễn Thị Yến N với anh Trịnh Văn Đ chung sống với nhau từ năm 2012, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 45, quyển số 01/2014, ngày 19/5/2014. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị N với anh Đ phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[4] Xét yêu cầu ly hôn của chị N, thấy rằng: chị N với anh Đ chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Đến tháng 6 năm 2014 xảy ra mâu thuẫn, chị N cho rằng anh Đ không chung thủy với chị và bỏ nhà đi từ năm 2014 cho đến nay. Do chị N với anh Đ không còn sống chung trong suốt thời gian dài nên chị không còn tình cảm với anh Đ.

Về phía anh Đ, kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đ, tạo điều kiện cho anh hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N. Tuy Nên, anh Đ không đến tham gia các phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị N. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị N với anh Đ mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Yến N.

[5] Về quan hệ con chung: chị N với anh Đ có 01 con chung tên Trịnh Quốc Đ, sinh ngày 06/10/2013. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Đ, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên; cháu Đ đang được chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu Đ, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N; giao cháu Đ cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Nguyễn Thị Yến N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Chị N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[6] Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: chị N xác định không có nợ chung.

[8] Do chị Nguyễn Thị Yến N yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Yến N.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Yến N được ly hôn với anh Trịnh Văn Đ.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Trịnh Quốc Đ, sinh ngày 06/10/2013.

+ Giao cháu Trịnh Quốc Đ cho chị Nguyễn Thị Yến N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu Đ đang sống chung với chị N).

+ Chị Nguyễn Thị Yến N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về nợ chung: ghi nhận chị Nguyễn Thị Yến N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị Yến N và anh Trịnh Văn Đ vẫn phải liên đới chịu trách Nệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Yến N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001012 ngày 15/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

172
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 78/2018/HNGĐ-ST ngày 09/07/2018 về ly hôn

Số hiệu:78/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về