Bản án 78/2017/HSST ngày 21/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 78/2017/HSST NGÀY 21/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 21tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2017/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2017 đối với:

Bị cáo Nguyễn Xuân T, sinh ngày 27-7-1993.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Tham gia quân đội nhân dân Việt Nam từ tháng 9-2011 đến năm 2013.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18-5-2017, đến ngày 21-5-2017 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình, có mặt.

- Những những người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Bá N, sinh năm 1994

Thường trú: khu Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1992

Thường trú: khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 18 giờ 45 phút ngày 18-5-2017, tại đoạn đường 39A thuộc địa phận khu N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình, Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Xuân T có hành vi cất giấu tại túi quần phía trước bên trái 02 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng, dạng cục. T khai nhận đó là ma túy (Heroine), cất giấu với mục đích để sử dụng. Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 02 gói ma túy trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng. Ngoài ra, Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình còn thu giữ, quản lý của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu đỏ, vàng đã cũ và số tiền 3.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 167/KLGĐ-PC54 ngày 19-5-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có trọng lượng 0,3223 gam (không phẩy ba nghìn hai trăm hai mươi ba gam). Heroine STT:20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ”.

Bản cáo trạng số 75/KSĐT ngày 23-8-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Xuân T ra trước Toà án nhân dân huyện Hưng Hà để xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự 1999.

Tại phiên toà:

Trong phần tranh luận, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội, phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18-5-2017; áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu để tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu của Nguyễn Xuân T là vật chứng của vụ án được niêm phong trong phong bì số 167/KLGĐ-PC54 ngày 19-5-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu đỏ, vàng đã cũ và số tiền 3.000 đồng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Xuân T nhưng tiếp tục quản lý số tiền để đảm bảo thi hành án; Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận, vào ngày 18-5-2017 bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập hồi 18 giờ 55 phút ngày 18-5-2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Biên bản quản lý và niêm phong vật chứng do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập ngày 18-5-2017; Bản kết luận giám định số 167/KLGĐ-PC54 ngày 19-5-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của những những người làm chứng là: Anh Nguyễn Bá N và Anh Nguyễn Thành T. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận vào hồi 18 giờ 45 phút ngày 18-5-2017, tại đoạn đường 39A thuộc địa phận khu N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Xuân T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3223 gam (Không phẩy ba nghìn hai trăm hai mươi ba gam) ma túy, loại Heroine (Hêrôin), mục đích để sử dụng, bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định như sau:“ Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”

 [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thời gian tham gia quân đội nhân dân Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2013 nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ít nên cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội để xem xét áp dụng tình tiết có lợi cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, khi lượng hình giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, điều đó thể hiện chính sách nhân đạo của Pháp luật.

[4] Bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy để sử dụng, không có mục đích vụ lợi, do đó, không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

 [5] Về vật chứng của vụ án: Số ma túy Cơ quan Điều tra quản lý của bị cáo T, sau khi được giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 167/KLGĐ - PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, cần tịch thu để tiêu huỷ. Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu đỏ, vàng đã cũ và số tiền 3.000 đồng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Xuân T. Đây là những tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, không liên quan gì đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

 [6] Về nguồn gốc 0,3223 gam ma túy, loại Heroine (Hêrôin), Nguyễn Xuân T khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 18-5-2017, khi T đang ở nhà thì có một người đàn ông tên Th (T không biết chính xác họ, tên, địa chỉ cụ thể) cũng là người nghiện ma túy đi xe máy đến rủ T đi chơi. Khi đến khu vực đền Tr, xã T, T đứng đợi còn Th đi mua ma túy. Khoảng 30 phút sau, Th quay lại đưa cho T 02 gói tráng kim màu trắng, T biết đó là ma túy (Hêrôin) và cầm 02 gói ma túy cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc cùng Th đi về để cùng nhau sử dụng. Đến đoạn đường 39A thuộc địa phận khu N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Th dừng xe đưa cho T 3.000 đồng nói T vào mua nước uống thì bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt giữ T còn Th bỏ chạy. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã rủ, đưa ma túy cho T nên không xử lý trong vụ án này.

 [7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

 [Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18-5-2017.

2. Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. 

2.1. Tịch thu để tiêu huỷ số ma túy là vật chứng của vụ án được niêm phong trong phong bì số 167/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

2.2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu đỏ, vàng đã cũ; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Xuân T và số tiền 3.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý số tiền để đảm bảo thi hành án.

(Tất cả những vật chứng trên do chi cục thi hành án dân sự huyện H đang quản lý)

3. Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo Nguyễn Xuân T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


44
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về