Bản án 77/2020/HNGĐ-ST ngày 26/05/2020 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 77/2020/HNGĐ-ST NGÀY 26/05/2020 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP B có mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 8189/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 129/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020.

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thùy A, sinh năm 1985

Trú tại: 16/10/12, khu phố 3, tổ 40, phường T, TP. B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc C, sinh năm 1984

Cùng trú tại: 124/619, khu phố 4, phường T, TP. B, tỉnh Đồng Nai.

 (Bà A có đơn xin vắng mặt, ông C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện ngày 20/12/2019, các lời khai tại hồ sơ bà Nguyễn Thùy A trình bày:

Bà và ông C quen biết và tự nguyện kết hôn vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Mai, TP B. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, ông C có hành vi bạo hành bà cả về thể chất lẫn tinh thần, hay cờ bạc, uống rượu xúc phạm bà và gia đình bà. Bà đã bỏ qua nhiều lần nhưng ông C vẫn không thay đổi. Tháng 11/2018 bà chuyển về nhà cha mẹ sống và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Đến nay mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể kéo dài nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông C.

Về con chung: Có 01 con chung: Nguyễn Quốc Th, sinh ngày 18/12/2012.

Ly hôn bà xin được nuôi cháu Th, tạm thời bà không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Không có.

*Bị đơn ông Nguyễn Quốc C vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy A.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án là chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thùy A và ông Nguyễn Quốc C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Nay có đơn xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, Tòa án nhân dân thành phố B đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét ông Nguyễn Quốc C là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân TP. B tỉnh Đồng Nai tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, do đó Tòa án không thu thập được lời khai của ông Nguyễn Quốc C và không tiến hành hòa giải được. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét bà Nguyễn Thùy A là nguyên đơn trong vụ án có đơn xin vắng mặt xét xử. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về Nội dung vụ án:

Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thùy A và ông Nguyễn Quốc C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Nguyễn Thùy A, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, ông C có hành vi bạo hành bà cả về thể chất lẫn tinh thần, hay cờ bạc, uống rượu xúc phạm bà và gia đình bà. Bà đã bỏ qua nhiều lần nhưng ông C vẫn không thay đổi. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2018, cả hai bỏ mặc nhau không ai quan tâm đến ai. Vì vậy nay bà làm đơn xin ly hôn vơi ông Nguyễn Quốc C để trả tự do cho nhau.

Tòa án đã tống đạt đầy đủ theo quy định các giấy triệu tập làm việc, thông báo hòa giải để tiến hành hòa giải đoàn tụ, nhưng ông Nguyễn Quốc C vắng mặt không có lý do. Điều đó thể hiện ông đã bỏ mặc và không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Vì vậy có căn cứ chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thùy A.

[2] Về con chung: Có một con chung: Nguyễn Quốc Th, sinh ngày 18/12/2012. Ly hôn, bà Nguyễn Thùy A xin được nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Hiện cháu Thịnh đang sống chung bà A, cháu Thịnh có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà A, ông C vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến gì. Vì vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của bà A. Giao cháu Nguyễn Quốc Thịnh cho bà A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Nguyễn Quốc C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Quốc C được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Do không thu thập được lời khai của ông Nguyễn Quốc C nên không có cơ sở để xác định tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, và vì bà Nguyễn Thùy A không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra để xem xét tại phiên tòa hôm nay. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp và có đơn khởi kiện sẽ được xem xét giải quyết thành vụ kiện dân sự khác.

[4] Về án phí HNGĐ-ST: Bà Nguyễn Thùy A phải chịu tiền án phí xin ly hôn là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

- Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy A.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thùy A và ông Nguyễn Quốc C.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Quốc Thịnh, sinh ngày 18/12/2012 cho bà Nguyễn Thùy A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Nguyễn Quốc C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Quốc C được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét.

- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thùy A phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thùy A đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008592 ngày 28 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 77/2020/HNGĐ-ST ngày 26/05/2020 về xin ly hôn

Số hiệu:77/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về