Bản án 77/2019/HNGĐ-ST ngày 21/08/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 77/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/08/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 76/2019/QĐST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1989 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Lâm Hồ V, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp N, xã D, huyện D, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 01/4/2019, bản tự khai ngày 10/6/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh V cưới nhau vào năm 2013 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thới Thuận vào năm 2013. Thời gian đầu sống có hạnh phúc nhưng đến tháng 5 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V ăn chơi không lo cho cuộc sống gia đình, thường gây mâu thuẫn và áp lực đối với chị, từ đó hạnh phúc vợ chồng dần mất đi không thể hàn gắn lại được. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay, hiện anh V đã về nhà mẹ ruột sinh sống. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh V nên không thể hàn gắn lại được mà yêu cầu được ly hôn.

- Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Lâm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 21/10/2015 đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

- Tại phiên Tòa: Chị H vẫn giữ yêu cầu khởi kiện không thay đổi gì.

* Đối với anh Lâm Hồ V là bị đơn, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng anh đều vắng mặt, mặc dù anh vẫn còn sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai của anh.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về nội dung giải quyết vụ án:

* Về tuân theo pháp luật tố tụng :

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tuân theo đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn là anh Lâm Hồ V vắng mặt không lý do là vi phạm quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh V.

- Về con chung: Giao con chung cho chị H nuôi dưỡng và buộc anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị H theo quy định pháp luật là 745.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.

- Về nợ chung: Không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1]. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lâm Hồ V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Lâm Hồ V cưới nhau vào năm 2013 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thới Thuận, huyện Bình Đại vào năm 2013 theo đúng quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh V được công nhận hợp pháp.

Nay chị H yêu cầu ly hôn, anh V vắng mặt nên không có lời khai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong đó có biên bản xác minh tại chính quyền địa phương, cũng như lời khai của chị H đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V ăn chơi không lo cho cuộc sống gia đình, thường gây mâu thuẫn và áp lực đối với chị H, từ đó hạnh phúc vợ chồng dần mất đi, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đã ly thân từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay, hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng, anh V đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống, không ai quan tâm đến ai, giữa chị H và anh V đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình.

Hơn nữa, Toà án đã tiến hành mời chị H và anh V để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh V vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh V đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của chị H và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh V.

[3]. Về nuôi con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị H và anh V có 01 con chung tên Lâm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 21/10/2015. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của chau K, xét thấy từ trước đến nay cháu đều sống với chị H, việc chị H nuôi con chung vẫn phát triển bình thường. Chị H có yêu cầu nuôi con chung, anh V đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và biết chị H có yêu cầu nuôi con chung nhưng anh không có ý kiến gì, nên để nhằm ổn định về tinh thần của con chung anh và chị, cần để chau K cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng cũng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị H.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: chị H là người trực tiếp được nuôi con, anh V là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82; Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, mức cấp dưỡng chị H yêu cầu 1.000.000 đồng/tháng là cao hơn so với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật là 745.000 đồng/tháng; nên buộc anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 745.000 đồng/tháng.

[5]. Về tài sản chung: Chị H khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

 [6]. Về nợ chung: Chị H khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[7]. Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại về quan điểm giải quyết vụ án: là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8]. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Án phí Hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Lâm Hồ V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 116, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Lâm Hồ V.

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Lâm Hồ V.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Lâm Hồ V chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Lâm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 21/10/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Anh Lâm Hồ V phải đóng góp nuôi con với chị Nguyễn Thị Thu H số tiền là 745.000 đồng/tháng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng một tháng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (ngày 21/8/2019) cho đến khi chau K thành niên (đủ 18 tuổi).

Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị H trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 116, Điều 119 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị H khai không có, nên không xét đến.

4. Về nợ chung: Chị H khai không có, nên không xét đến.

5. Về án phí:

5.1. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003310 ngày 08 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Như vậy, chị Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí.

5.2. Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Lâm Hồ V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Lâm Hồ V vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 77/2019/HNGĐ-ST ngày 21/08/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:77/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Đại - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về